Đường dây nóng : 091.352.8198

10 xét nghiệm phát hiện sớm bệnh tim

Rất nhiều triệu chứng thầm lặng của bệnh tim mà người trong cuộc lẫn y học không thể phát hiện sớm, trừ khi thực hiện những xét nghiệm cần thiết dưới đây.

10 xét nghiệm phát hiện sớm bệnh tim
Ảnh minh họa
Tin bài khác

1. Xét nghiệm cholesterol hoàn toàn

Xét nghiệm cholesterol hoàn toàn (Advanced cholesterol panel) hay còn gọi là xét nghiệm mỡ máu, xét nghiệm bảng lipid hoặc hồ sơ lipid, đo lượng cholesterol và triglycerides trong máu.

Đây là một xét nghiệm quan trọng, công cụ để biết cholesterol xấu (LDL), khi mỡ máu tăng cao sẽ có rất nhiều hạt LDL làm tắc huyết mạch, giống như tắc đường...

2. Xét nghiệm C-Reactive Protein (CRP)

Xét nghiệm C-Reactive Protein, gọi tắt là CRP, là xét nghiệm máu lấy từ tĩnh mạch tay để biết mức độ viêm. CRP thực chất là một chất phản ứng do gan bài tiết vào máu vài giờ sau khi có tính trạng viêm nhiễm.

CRP tăng trước khi xảy ra cơn đau, sốt, sau nhồi máu cơ tim, nhiễm trùng huyết, sau phẫu thuật và các chỉ điểm lâm sàng khác và rất có giá trị trong việc theo dõi diễn biến của bệnh, tầm soát bệnh mạch vành tim (CHD), bệnh tim mạch...

3. Chụp CT scan đánh giá vôi hóa mạch vành

Chụp CT scan đánh giá vôi hóa mạch vành (Coronary Artery Calcium Scoring) nhằm để biết những đốm canxi hay sự vôi hóa xuất hiện trên thành động mạch vành nuôi tim.

Một lượng nhỏ canxi đang trôi nổi trong máu sẽ làm cho các mạch máu bị cứng, làm cho tim khó khăn bơm máu đi nuôi cơ thể, tăng huyết áp, tăng mỡ máu và dẫn đến tắc mạch máu...

4. Xét nghiệm CIMT

Xét nghiệm CIMT (Carotid Intimal Medial Thickness) là phép siêu âm cổ để có hình ảnh của động mạch cảnh bên phải và trái cổ, nơi đảm nhận việc cung cấp máu tới cho não.

Sau khi bôi gel lên cổ, người ta dùng đầu dò siêu âm lướt trên các động mạch cổ để đo độ dày lớp niêm mạc cảnh động mạch, thời gian khoảng 15 phút.

Độ dày lớp niêm mạc động mạch cảnh bình thường là dưới 1,06mm (tối ưu 0,7 mm tùy theo độ tuổi), nếu vượt ngưỡng trên bác sĩ cho phương án điều trị hoặc khuyến cáo ăn uống, luyện tập để giảm mỡ máu, huyết áp, nếu mắc bệnh đái tháo đường thì nên điều trị để đưa lượng đường huyết về ngưỡng hợp lý.

5. EndoPAT

Thông thường, động mạch được bọc lót một lớp duy nhất các siêu tế bào, được gọi là nội mạc, có nhiệm vụ giữ cho mạch máu không bị tổn thương, đông máu và cho giúp động mạch giãn nở thuận lợi khi lưu thông huyết.

Động mạch khỏe thường có độ đàn hồi tốt khi bị ép, ví dụ như khi dùng máy đo huyết áp băng quấn tay. Khi băng mở ra, lưu lượng máu tăng gấp đôi, gấp ba, thậm chí gấp bốn lần trong vài giây đến vài phút.

Động mạch khi bị bệnh không làm được điều này. Khi mạch máu không đàn hồi trở lại là một dấu hiệu rối loạn chức năng nội mô, cảnh báo sớm bệnh động mạch.

6. Xét nghiệm Homocysteine

Cách đây 4 thập kỷ, y học phát hiện thấy trẻ em có hàm lượng acid amin hay homocysteine cao dễ bị tổn thương động mạch, còn ở người lớn, homocysteine tăng ​​cũng gây tổn thương mạch máu, dẫn đến chứng mất trí nhớ, phát sinh cơn đau tim, đột quỵ, thậm chí cả chứng viêm tĩnh mạch.

Theo tiêu chuẩn của nhiều phòng xét nghiệm trên thế giới, chỉ số homocysteine được xem là bình thường nếu không vượt quá 15 mcmol/l. Tốt nhất là chỉ số này nên duy trì ở mức dưới 7,2 mcmol/l.

Nếu homocysteine cao, có thể khắc phục bằng cách dùng vitamin B6, vitamin B12 và axit folic. Một số chất khác cũng có thể hỗ trợ giảm homocysteine là trimethylglycine, N-acetyl cysteine, kẽm, inositol và SAMe.

7. Phép xét nghiệm gluco máu A1c

Phép thử Hemoglobin A1c cho biết nhanh kết quả lượng đường huyết, giúp người ta biết nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.

Những người từ 45 tuổi trở lên, nhất là nhóm người có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường, bản thân mắc bệnh đái tháo đường khi mang thai thì nên đi thử, tần suất 2 năm/lần.

Nếu nhẹ có thể dùng ăn uống khống chế đường huyết ở mức phù hợp mà không cần dùng thuốc.

8. Lipoprotein-A

Lipoprotein-một hoặc LPA là một hình thức thừa kế của cholesterol LDL liên quan đến một loại protein đặc biệt. Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng LPA dễ phát sinh sớm bệnh tim mạch. Đây là một xét nghiệm máu khá phổ biến.

9. Ferritin

Ferritin là một protein trong máu kết hợp với sắt. Nếu nồng độ ferritin cao hay thấp đều không phản ánh đúng chỉ số sắt có trong cơ thể.

Sắt quá tải có thể gây ôxy hóa tế bào thành mạch máu, dẫn đến bệnh tim, và cục đông máu. Sắt quá tải ở các động mạch có thể được kiểm tra bằng xét nghiệm máu để biết ferritin... 

10. Xét nghiệm acid uric và GGT

Xét nghiệm máu hai chỉ số này không chỉ đơn giản mà còn có lợi, giúp bác sĩ có cái nhìn sâu hơn về sức khỏe của hệ thống tim mạch.

 Acid uric là sản phẩm năng lượng, như năng lượng được sử dụng bởi các tế bào (ATP), nếu acid uric tăng cho thấy tim mạch đang có nguy cơ bị tổn thương.

GGT là một enzyme gan cho biết chức năng tổng thể của gan đang giảm dần, đặc biệt là của màng tế bào trong gan và sức khỏe tổng thể quá trình trao đổi chất trong cơ thể đang bị ách tắc.

Nồng độ acid uric bình thường là 4-8 mg/dl, trên 10 mg/dl được là có vấn đề, còn GGT bình thường dưới 50 IU/L, trên 100 IU/L chứng tỏ màng tế bào đang bị rối loạn chức năng tổng quát.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Khắc Nam
Bình luận Gửi phản hồi