* Tại sao người quá béo nhiều bệnh tật và nguy cơ tử vong cao?
Trần Thị Nguyệt Anh, Thành phố Hà Tĩnh
Béo phì không chỉ làm cho hoạt động của mình trở nên vướng víu, mà còn là tai họa tiềm ẩn của nhiều loại bệnh như: hẹp van tim, huyết áp cao, tiểu đường, đột quỵ, bệnh Alzheimer, rối loạn lipit máu, sỏi mật, đau xương khớp và cả ung thư nữa. Ở phụ nữ mãn kinh, các nguy cơ ung thư túi mật, ung thư vú và tử cung tǎng lên ở những người béo phì, còn ở nam giới béo phì, bệnh ung thư thận và tuyến tiền liệt hay gặp hơn. Người ta thường bảo: Vòng bụng càng cao thì vòng đời càng ngắn.
Ở nhiều nước, tỷ lệ người bị béo phệ trước tuổi 30 là 1 trên 7, thậm chí 1 trên 6. Khoảng giữa 30 và 40 tuổi, tỷ lệ này tăng gấp đôi. Như thế, một người béo phì cần gầy đi không phải chỉ vì lí do thẩm mĩ mà còn vì sức khỏe. Do vậy, người ta coi là có nguy cơ đối với sức khỏe một khi chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) cao hơn 30 và vòng bụng lớn hơn 102cm, hoặc khi vòng bụng lớn hơn vòng hông thì dù chỉ số BMI thế nào đi chăng nữa cũng là bất ổn. Tính BMI bằng cách lấy trọng lượng (kg) chia cho bình phương chiều cao.
Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân và béo phì khoảng 4% ở Hà Nội (1995) và Thành phố Hồ Chí Minh (2000); khoảng 10,7% ở lứa tuổi 15-49 và 21,9% ở lứa tuổi 40-49. Tỷ lệ béo phì ở trẻ học sinh tiểu học Hà Nội là 4,2% (1996) và 12,2% ở Thành phố Hồ Chí Minh (1997). Thực hiện một chế độ ǎn uống hợp lý và hoạt động thể lực đúng mức để duy trì cân bặng ổn định ở người trưởng thành, đó là nguyên tắc cần thiết để tránh béo phì.
* Bệnh đau dạ dày của cháu có thể chữa khỏi được không? Cháu có thể ăn uống như thế nào để có thể tăng cân?
Bạn đọc (nguyentrinh01@yahoo.com)
Ước tính có khoảng 5-10% dân số trên thế giới bị bệnh đau dạ dày. Riêng bên Mỹ có đến 25 triệu người bị bệnh, số đàn ông và đàn bà bệnh ngang nhau. Ở Việt Nam tỉ lệ này là 7%. Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất mà y học ngày nay mới phát hiện ra đó là có đến hơn 70% số dân có nguy cơ bị nhiễm chứng bệnh này. Phải đến gần 100 năm sau (1892-1982), qua biết bao công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, mới tìm ra nguyên do chứng đau dạ dày là do vi khuẩn Helicobacter pylori (HP).
Năm 1982, hai nhà khoa học người Australia Robin Warren và Barry Marshall đã tìm ra mối liên hệ giữa vi khuẩn HP và chứng loét dạ dày, chứ không phải do stress. Hai nhà khoa học này đã được nhận giải Nobel năm 2005. HP là vi khuẩn có hình hơi xoắn với 4-7 tiên mao ở mỗi đầu. Khi thâm nhập vào dạ dày, HP sẽ phá huỷ lớp chất nhầy che phủ bề mặt dạ dày. Lớp chất nhầy này có tác dụng bảo vệ niêm mạc khỏi bị chất axit cùng các men phá hủy thành dạ dày và gây loét. Có hàng tỉ vi khuẩn này trong dạ dày, nếu không bị diệt trừ thì sẽ tồn tại suốt đời và gây ra rối loạn tiêu hoá, viêm dạ dày mạn tính dẫn đến loét dạ dày, loét tá tràng, ung thư dạ dày, u ác tính tế bào limphô ở niêm mạc dạ dày...
HP có mặt trong khoảng 65-70% trường hợp viêm dạ dày, 70-80% ung thư dạ dày, hơn 90% các trường hợp loét dạ dày hoặc tá tràng. Nguy cơ ung thư dạ dày ở người bị nhiễm HP sẽ tăng từ 6-10 so với người không bị nhiễm. Ước tính có khoảng trên 50% dân số bị nhiễm vi khuẩn HP, đặc biệt ở những nước đang phát triển thì tỉ lệ này còn tăng cao hơn với 60-80%. Tại Việt Nam, con số này là 70%.
Sự lây truyền HP này chủ yếu qua đường tiêu hóa. Ruồi cũng là một con vật trung gian góp phần lây lan HP qua đường thực phẩm. Hướng điều trị được cho là hiệu quả nhất do các chuyên gia hàng đầu về tiêu hoá khuyến cáo là phối hợp giữa ba loại dược phẩm: 1 thuốc chống tiết acid và 2 thuốc kháng sinh có hiệu lực diệt HP cao là Clarithromycine và Amoxicilline. Ngoài ra, người bệnh cũng nên tránh dùng vị cay, chua, hoặc dùng những chất gây tăng tiết axit như chè, càphê, bia, sữa... Đặc biệt, không nên hút thuốc lá vì các hoá chất trong khói thuốc sẽ làm chậm đi 50% tiến độ lành sẹo của những vết loét dạ dày - tá tràng.