Cần sự đối xử công bằng
Dưới góc độ của nhà kinh tế, TS. Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng: Đã là chủ thể kinh doanh, được pháp luật chấp nhận thì người kinh doanh nông nghiệp, hay công nghiệp… phải được đối xử như nhau trong tích tụ đất đai. Tại sao một chủ thể được tích tụ hàng trăm hec- ta đất làm công nghiệp, dịch vụ mà lại không được tích tụ hàng trăm hec - ta để làm nông nghiệp? Tại sao tích tụ làm công nghiệp thì đất đai của dân “bị thu hồi” với giá rẻ, còn tích tụ làm nông nghiệp thì thoả thuận, giá thị trường? Đó là một sự vô lý, không công bằng.
Nhiều nhà kinh tế đồng tình với quan điểm trên. Họ cho rằng, vấn đề ở đây không chỉ là trực canh hay lĩnh canh mà là quyền kinh doanh trong nông nghiệp phải được đối xử như khi kinh doanh các loại hình khác, và ai cũng phải được phép tích tụ đất đai để sản xuất nông nghiệp. Một ông chủ đang kinh doanh công nghiệp, có giá trị tài sản hàng ngàn tỷ đồng, ông ta có quyền được mua, thuê hàng ngàn hec - ta đất để đầu tư sản xuất nông nghiệp nếu ông ta thấy sản xuất nông nghiệp mang lại lợi nhuận nhiều hơn. Nếu chỉ bó hẹp là nông dân mới được tích tụ đất đai sản xuất nông nghiệp thì nền nông nghiệp của chúng ta sẽ còn rất lâu mới cạnh tranh được với thế giới. Bởi, quy định như vậy sẽ không thu hút được mọi nguồn lực của xã hội đầu tư vào phát triển lĩnh vực này. Khi đó, chắc chắn quá trình tích tụ đất đai sẽ diễn ra một cách chậm chạp, con đường CNH, HĐH nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tích tụ phải đúng mục đích
Để bảo vệ quan điểm của mình, một số nhà kinh tế Viện Kinh tế Việt Nam và Viện Quản lý kinh tế TƯ phân tích: Đã là kinh tế thị trường thì phải xử lý bằng kinh tế chứ không thể xử lý hành chính. Việc chuyển nhượng đất cho nhau để tích tụ trong quy hoạch của Nhà nước, phù hợp với quy hoạch phát triển từng loại cây, con nông nghiệp thì hoàn toàn do chủ đất và người tích tụ tự thoả thuận. Nhà nước không can thiệp mà chỉ là trọng tài, nếu xảy ra tranh chấp thì Nhà nước sẽ can thiệp bằng công cụ của mình là pháp luật.
Về lo ngại sự bóc lột, ông Đoàn Ngọc Phả - PGĐ Sở NN-PTNT An Giang cho rằng, với tình hình hiện nay, ông chủ đất không thể “phát canh thu tô” như trước đây được. Còn TS. Vũ Tuấn Anh thì phân tích: “Nhà nước ta hiện nay hoàn toàn có đủ công cụ và đủ khả năng để các ông chủ không thể bóc lột được nông dân. Các ông chủ sử dụng lao động sẽ phải trả mức lương tối thiếu do nhà nước Việt Nam quy định và các chính sách về bảo hiểm. Nông dân đi làm thuê cho ông chủ ruộng đất sẽ không khác so với công nhân đi làm thuê trong nhà máy”.
Nếu Nhà nước sợ sinh ra một tầng lớp “địa chủ mới”, sợ tư bản hoá đất đai thì thái độ của Nhà nước không phải là “cấm” mà là phải có một chính sách đúng, mà quan trọng nhất ở đây là chính sách thuế và hệ thống pháp lý hoàn chỉnh. TS. Chu Tiến Quang, Viện Quản lý Kinh tế TƯ cho rằng: “Nhà nước không quy định người tích tụ tích tụ bao nhiêu hec -ta, nhưng tích tụ vùng đất quy hoạch làm nông nghiệp, dứt khoát phải làm nông nghiệp. Nếu sử dụng vào mục đích khác, đánh thuế thật nặng.”
Các nhà kinh tế khẳng định, bằng chính sách thuế sẽ buộc đất đai được tích tụ làm ra tiền từ sản xuất nông nghiệp. Nếu tích tụ để chuyển đổi mục đích sử dụng, để bán kiếm chênh lệch, hoặc làm ra giá trị nông nghiệp thấp, bỏ đất không… đều phải bị đánh thuế thật nặng bằng các loại thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế kinh doanh trên đất. Như vậy, sẽ hạn chế được thấp nhất sự xuất hiện của “địa chủ mới”. Đất đai được tích tụ không làm ra giá trị nông nghiệp cao sẽ buộc phải trở lại thị trường để người khác có khả năng làm ra giá trị nông nghiệp cao sở hữu đất đó.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới sử dụng công cụ thuế và công cụ pháp luật như trên rất hiệu quả. Nó buộc đất tích tụ phải sinh ra giá trị cao và chống tư bản hoá. Ở nước ta hiện nay có tình trạng tích tụ phi kinh tế, trái quy luật mà một phần không nhỏ là của các quan chức Nhà nước là do pháp luật của nước ta, các công cụ của nhà nước ta chưa đủ mạnh để hạn chế nó. Điều này, làm cho nhiều người tỏ ra lo ngại cũng không phải là không đúng. Một số luật gia cho rằng, Chính phủ chỉ cần áp dụng ngay các biện pháp mạnh để hạn chế loại hình tích tụ này.
Về mặt kinh tế, nhìn chung, quan điểm trên đây được nhiều người chấp nhận, nhưng dưới góc nhìn về mặt xã hội, một số nhà xã hội học lại tỏ ra lo ngại, quá trình tích tụ đất đai sẽ xuất hiện nhiều người nghèo không còn đất, nông dân không đủ khả năng và tư duy làm ra giá trị sản xuất nông nghiệp cao sẽ bán, nhượng đất, Nhà nước có bắt họ giữ, họ cũng không giữ được. Nhưng các nhà kinh tế khẳng định, đó là vấn đề xã hội thì phải giải quyết bằng những chính sách xã hội.
|
TS. Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam: Ở ĐBSCL, ở Tây Nguyên hiện tượng tích tụ đất đai diễn ra khá mạnh mẽ, xuất hiện nhiều người nghèo không có đất. Nhưng chính sách của Chính phủ lại mua đất của người đã tích tụ với giá cao để cấp lại cho người nghèo sản xuất xem ra chưa hợp lý. Vì có cấp cho họ, họ không có khả năng sản xuất mang lại giá trị cao, lại bán. Vòng luẩn quẩn ấy sẽ không thể giải quyết được, rủi ro và không bền vững. Đây là vấn đề xã hội, vì vậy phải xử lý nó bằng các chính sách xã hội để người nghèo đảm bảo cuộc sống và vươn lên. Điều này không một quy định nào trên thế giớ cấm cả.
GS. Trịnh Duy Luân - Viện trưởng Viện Xã hội: Quá trình phát triển, đặc biệt là quá trình tích tụ đất đai sẽ tạo nên sự thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế và xã hội, sẽ động chạm đến nhiều tầng lớp xã hội. Vì vậy, cần cảnh báo cho họ những thay đổi trong quá trình phát triển, chuẩn bị chiến lược chống, đối phó với những mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong thời kỳ mới.
|