Thứ năm, 23/11/2017 02:53 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Bạch hoa đào dưỡng nhan

25/01/2012, 10:29 (GMT+7)

Để giúp mọi người hiểu thêm về loại hoa đào trắng, dưới đây xin gửi đến những phương thuốc trị liệu từ bạch hoa đào.

Năm hết tết đến, hễ vào dịp xuân về là khắp nơi trên mọi miền đất nước muôn hoa lại đua nở, trong sắc xuân ấy hoa đào là biểu tượng đặc biệt cho ngày xuân. Ở Đà Lạt, bạch hoa đào nở trắng trên cành, còn miền Bắc đào cũng khoe sắc trong nắng xuân như bích đào, đào phai…

Ở nước ta, vùng cao nguyên Đà Lạt có giống đào hoa trắng (một giống đào khá phổ biến ở Nhật Bản). Bạch đào vừa đẹp lại rất giàu dược tính nên còn là vị thuốc quý dùng để làm đẹp dung nhan cho con người. Nói đến hoa đào trắng có lẽ ít người biết đến nếu chưa một lần thưởng ngoạn hoa xuân trên vùng đất cao nguyên tuyệt vời này, mặc dù ở Nhật Tân - Hà Nội cũng có trồng thử, nhưng yêu cầu chăm sóc đào hoa trắng khá khó tính nên chưa thể thành công.

Để giúp mọi người hiểu thêm về loại hoa đào trắng, dưới đây xin gửi đến những phương thuốc trị liệu từ bạch hoa đào. Hoa đào trắng còn gọi là bạch hoa đào, thấy có nhiều ở Đà Lạt, song còn có nhiều tên như Tiêu hận khách, Tiêu hận hoa, Trợ kiều hoa, Trân thần trang, Bạch lôi hoa, Bôi lôi hoa. Tên khoa học là Flos salicina, thuộc họ hoa hồng (Rosaceae).

Là cây đại mộc nhỏ, nhánh không lông, lá thon, mặt dưới có lông ở gân, bìa có răng và tuyết, lá bẹ dài như chỉ, chụm 2-3 hoa trắng. Quả nhân cứng thường tím, chua đắng. Cây này có tên khoa học Prunus salicina Lindn var. Cần lưu ý phân biệt vì có sách họ lại lấy hoa của cây đào (Prunus persica Stokes Amydalus persica L.) và cây đào (Prunus prrsica Linn.Batsch), những cây này đều có hoa màu hồng nhạt.

Bộ phận dùng làm thuốc là hoa trắng được thu hái, sơ chế sau khi chọn hoa vào tháng 3 lấy phơi trong râm (âm can) cho khô. Nhưng để đạt được yêu cầu trong bào chế cần chọn ngày mùng 3 tháng 3, phơi trong râm để dùng (Biệt Lục). Khi lấy hoa nên chọn thứ sạch sẽ, bỏ trong bao, đem phơi khô dưới thềm nơi thoáng mát, hoa bảo quản trong vòng một năm, không nên để lâu mất tác dụng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Luận). Khi lấy hoa đào phải chọn hoa chưa nở hẳn mới hay, tức hoa đang còn chúm chím (Y Sự Tận Chí, Nhật Bản).

Đông y cho rằng, bạch hoa đào có vị đắng, tính bình không độc. Về dược lý làm thông tiện, tiêu sưng, nên được dùng làm thuốc hòa hoãn hạ lợi, chủ trị làm nhan sắc xinh đẹp (Bản Kinh). Khiến cho nhan sắc tươi tốt tươi nhụận, từ thủy khí, phá thạch lâm, lợi đại tiểu tiện (Biệt Lục). Liều dùng thông thường từ 12 – 32g cho dạng thuốc thang. Nhiều tài liệu khác còn nói hoa đào trắng trị được những chứng tích tụ, phù thũng, thông tiểu. Người Nhật dùng nhiều phương thuốc hay về bạch đào hoa như các phương "Đào hoa tán", "Hạ đình ẩm phương".

Trong các sách cũng ghi rằng, khi lấy hoa đào phải chọn hoa chưa nở hẳn mới hay (Y Sự Tận Chí, Nhật Bản). Hay còn nói bạch đào hoa thông lợi được những nước ứ đọng, trị chứng đàm ẩm, tích trệ, phong cuồng (Bản Thảo Cương Mục). Trong "Thực liệu bản thảo" còn nói bạch đào hoa trị được những chứng đau ở vùng ngực, bụng, hói tóc, rụng tóc. "Bản Thảo Tân Tu" nói nó tiêu tan được những chứng sưng đầy và hạ được khí...

Để áp dụng và tham khảo, xin giới thiệu cụ thể những phương thuốc trị liệu bệnh từ vị thuốc bạch hoa đào.

* Làm da mặt sáng sủa tươi nhuận: Hái hoa đào vào ngày mùng 3 tháng 3, ngày 7 tháng 3, lấy huyết gà trộn, xức lên mặt liên tục 2 – 3 ngày (Thánh Tế Tổng Lục).

* Trị da mặt sần sùi: Hoa đào, Đơn sa mỗi thứ 3 lượng, tán bột, mỗi lần uống 4g lúc đói với nước giếng, ngày 3 lần, đi tiểu có thể ra nước đen (Thánh Huệ Phương).

* Trị da mặt đen loang lổ như trứng sẻ, tàn nhang: Hoa đào tán bột, Đông qua nhân nghiền nát, hai vị bằng nhau, trộn chung bôi vào (Trửu Hậu Phương).

* Trị lở da đầu, rụng tóc: Chọn hoa đào vào ngày 3 tháng 3, hoa chưa nở, phơi trong râm cho khô, cùng với quả dâu chín đỏ hai vị bằng nhau, nghiền nát, trộn với mỡ heo, trước hết dùng vôi loãng rửa cho ra vẩy rồi bôi thuốc vào (Thực Liệu Bản Thảo).

* Trị đại tiểu tiện không thông sau khi sinh: Hoa đào, Quỳ tử, Hoạt thạch, Binh lang lượng bằng nhau, tán bột, uống lúc đói với nước hành, mỗi lần 6g (Tập Nghiệm Phương).

* Trị đại tiện khó: Hoa đào, tán bột uống lần 1 thìa (Thiên Kim Phương).

* Trị đau nhức hai ống chân: Đào hoa 1 thăng (1 thăng = 10 hộc = 1 lít) phơi trong râm cho khô, tán bột chia nhiều lần uống trong ngày, mỗi lần uống với rượu nóng từng hớp nhỏ (Ngoại Đài Bí Yếu).

* Trị đau xương thắt lưng: Ngày mùng 3 tháng 3 hái hoa đào 1 đấu 1 thăng (1 đấu = 10 thăng = 10 lít), dùng nước giếng sáng mai chưa ai múc, múc  3 đấu, men rượu 6 thăng, gạo nếp 6 đấu, nấu chín, cất thành rượu, mỗi lần uống 1 thăng chia nhỏ uống làm nhiều lần, ngày 3 đợt uống (Thiên Kim Phương).

* Trị lỗ rò ra mủ không hết: Hoa đào tán bột, trộn mỡ heo, ngày bôi 2 lần (Thiên Kim Phương).

* Trị táo bón: Hoa đào 1 lượng, trộn với gạo 3 lượng, làm thành bánh bao, nấu chín ăn khi đói (Thánh Huệ Phương).

* Trị sán ruột: Dùng hoa đào trắng khô 6g, gạo tẻ 1 nắm. Sấy khô bạch hoa đào tán bột. Cho gạo nấu nhừ thành cháo mới cho bột hoa đào vào khuấy đều. Ngày ăn 1 lần vào lúc đói. Cần ăn liền 5 – 7 ngày.

* Trị ngực đau, bụng đau, tim đau: Vào ngày 3 tháng 3 hái hoa đào phơi trong râm cho khô, tán bột, mỗi lần uống 6g (Thực Liệu Bản Thảo).

* Trị sốt rét kinh niên: Hoa đào tán bột, uống với rượu, ngày một muỗng canh (Mai Sư Phương).

* Trị đàm ẩm: Hoa đào tán bột, khi hái hoa về, phơi trong râm cho khô, tán bột, uống với rượu nóng ngày 1 chén, để dễ thông lợi có thể dùng cháo lỏng để dễ cho việc chuyển thuốc xuống (Thôi Hành Công Soán Yếu Phương).

* Trị trên đầu lở dày đặc: Hái hoa đào, tán nhuyễn. Vào tiết hàn thực, uống sau khi ăn, mỗi lần một muỗng canh với nước, ngày 3 lần. Bài này cũng có thể trị đuợc chứng lở mặt chảy nước vàng (Hải Thượng Phương).

* Trị trên bắp chân lở ngứa: Hoa đào, muối ăn,hai vị bằng nhau, giã nát, trộn với dấm bôi vào (Trửu Hậu Phương).

B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI

Đang được quan tâm

Gửi bình luận