Thứ hai, 21/05/2018 09:47 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Bô xít hay chè trên đất giàu nhôm?

23/05/2013, 10:14 (GMT+7)

Là người Việt, dù kiến thức có thể khác nhau, ai cũng muốn góp ý kiến để cho người thân, cho bạn bè không lạc đường và cho đất nước càng ngày càng giàu đẹp.

Cần tôn trọng những phản biện tâm huyết

Là người Việt, dù kiến thức có thể khác nhau, ai cũng muốn góp ý kiến để cho người thân, cho bạn bè không lạc đường và cho đất nước càng ngày càng giàu đẹp. Người thì qua lời nói, người thì bằng chữ viết. Để cho sự đồng thuận tiếp cận giá trị tuyệt đối, chúng ta cần lắng nghe, tôn trọng những phản biện tâm huyết. Trong tất cả chúng ta, hầu như ai ai cũng gặp phải một lần không thành công nên việc lắng nghe những ý kiến trái chiều nhưng lại rất đúng với quy luật và lòng người là vô cùng cấp thiết.

Một thí dụ điển hình về sự đồng thuận tuyệt đối có thể thấy ở xã Thạch Văn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh khi một việc tưởng chừng bất khả thi như biến vùng đất cồn cát hoang vu ven biển thành đất canh tác với kết quả cụ thể là vừa tăng diện tích canh tác cho từng hộ, vừa tăng thu nhập cho người nông dân trong vùng.

Trong vấn đề khai thác bô xít ở Tây Nguyên gần đây những ý kiến không đồng tình càng ngày càng nhiều, càng có sức thuyết phục cao, cả về khoa học lẫn kinh tế. Bởi vậy, với những kinh nghiệm còn chưa nhiều của mình, chúng tôi chỉ xin góp một số ý kiến chân tình với đề xuất một cây trồng trồng chính và một cây trồng xen giá trị không kém để các nhà quản lý và các đồng nghiệp tham khảo về chuyển hóa không khó khăn từ khả năng gần sang hiện thực.

Cây chè và độ phì nhiêu thực tế

Ngày nay không chỉ các nhà khoa học nông nghiệp mà ngay cả nông dân cũng đã hiểu khá tinh tường về độ chua của đất khi thấy cây chè không thể mọc tốt ở vùng đất có phản ứng trung tính. Ngược lại cây cải bắp không thể sống bình thường trên đất chua.

Các bạn đồng nghiệp của chúng tôi trên đất châu Âu, nơi có những loại đất phì nhiêu gấp nhiều lần về mùn, N,P,K cũng như vi lượng so với các loại đất VN lại ước mơ có một dải đất chua để trồng chè, để các thương gia không phải đi hàng ngàn cây số sang mua nguyên liệu SX chè hoặc chè đã mang thương hiệu nổi tiếng của nước ta.

Ước mong của các đồng nghiệp châu Âu cũng giống như ước mong của bà con nông dân vùng đất phù sa trung tính sông Hồng muốn có một vườn chè xinh xinh với chất lượng không kém chè mọc trên đất phù sa cổ hay đá phiến ở xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên để gọi người láng giềng sang nhấm nháp sau một buổi cày dưới nắng hè gay gắt. Chính nhôm di động không tồn tại trong đất trung tính đã ngăn cản mong muốn tình nghĩa xóm làng đó.

Cách đây hơn 60 năm, khi cơ quan khoa học nghiên cứu nông nghiệp ở nước ta mới chỉ là viện khảo cứu trồng trọt, những người nông dân ấy đã cùng chúng tôi lên tận xã Tân Cương cùng uống nước chè, chế biến thủ công, thấy chất lượng về cảm quan đã khác hẳn chất lượng chè trong vườn nhà mà không cần phân tích bằng các chỉ tiêu hiện đại như tanin, catechin tổng số, đường khử, axit-amin, caphein, vitamin C... như bây giờ.

Cũng chính từ những đia danh có chè xanh nổi tiếng ở những vùng đất giàu nhôm ở Nghệ An mà những người vợ xứ Thanh lấy chồng là các giáo viên tiểu học quê ở xứ Nghệ những năm 40 đã vào mua những bó chè xanh nổi tiếng mang tên chè Gay rồi đi thuyền theo kênh nhà Lê ra bán tận quê mẹ.

Có thể nói, chính Mác.C. chứ không phải ai khác đã tổng kết vấn đề này khi ông nghiên cứu quá trình tư bản đầu tư vào nông nghiệp để có giá trị thặng dư cao nhất. Không hề cường điệu khi nói việc phân biệt độ phì nhiêu tự nhiên của đất khác xa độ phì nhiêu thực tế đối với từng cây trồng cụ thể là một đóng góp không nhỏ về khoa học tự nhiên của nhà chính trị - kinh tế nổi tiếng này.

Bô - xít hay chè?

Đợt nắng nóng hiếm có ở Thủ đô những ngày qua nhắc chúng tôi nhớ đến chè, một thứ nước giải khát truyền thống, lại thêm tác dụng chống lão hóa tế bào và ngăn ngừa các bệnh nan y cùng với hung tin về hàng trăm tấn gừng củ nhập nội chứa hóa chất cực độc nhắc chúng tôi những kết quả nghiên cứu đã làm không được phép chỉ xếp trong ngăn kéo.

Đó là việc dùng một loại phân nước mang tên NEB - 26 của Tập đoàn AGMOR (Mỹ) đã được phép lưu thông trên thị trường nước ta, vừa tiết kiệm đạm, vừa tăng cường độ ôxy hóa - khử ôxy, làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, lại giúp các tập đoàn vi sinh vật có lợi phát triển nhanh, đặc biệt hạn chế sâu bệnh cho tất cả các cây trông trong đó có chè.

Cây gừng Nhật Bản đã thí nghiệm và thực nghiệm trên diện rộng 4 năm trước đây cho kết quả đáng mừng, đã được công ty xuất khẩu nông sản Tùng Lâm xuất sang Nhật dạng nguyên củ hoắc cắt thành lát hấp chín với yêu cầu hàng chục vạn tấn mỗi năm để làm thuốc và nhiều gia vị.

Cây gừng có ưu điểm đòi hỏi rất ít ánh sáng (chỉ 800 Lux!) nên có thể trồng dưới bóng râm trong vườn cây ăn quả hay cà phê, cao su... (các thực nghiệm ở Bắc Giang đã cho năng suất bình quân 60 tấn củ/ha dưới tán cây ăn quả). Với đồi chè mới trồng, gừng Nhật Bản có thể trồng để phủ đất, chống xói mòn và giá trị gừng củ chẳng kém gì “chính chủ” là chè!

Phân bón NEB cũng hạn chế đáng kể sâu bệnh với gừng như kết quả khảo nghiệm ở Hà Nam nên không còn đáng ngại như với gừng củ nhập từ nước láng giềng.

Việc có thể làm

Chúng tôi rất mừng khi được tin giá chè xuất khẩu tăng cả lượng và giá trị trong các tháng đầu năm 2013.

Có thể nói trồng chè kết hợp với gừng là một mục tiêu trong “kinh tế xanh” mà nhiều người đã đề cập. Phải chăng trồng gừng Nhật Bản trong nương chè ở thời kỳ kiến thiết cơ bản là một khả năng gần rất dễ chuyển hóa thành hiện thực hơn bô xít?

(1): Tác giả là Nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học, Bộ NN-PTNT 

(2): Tác giả là Nguyên Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng - Nông hóa

GSTS NGUYỄN NGỌC KÍNH (1) - GS.TS NGUYỄN VY (2)

Đang được quan tâm

Gửi bình luận