Đường dây nóng : 091.352.8198

Chấn hưng giáo dục - Không thể chậm trễ hơn

Nhìn lại thời gian qua, ngành giáo dục đã đạt được khá nhiều thành tựu, tuy nhiên, nền giáo dục nước ta đã bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, bất cập.
Tin bài khác

Nhìn lại thời gian qua, ngành giáo dục đã đạt được khá nhiều thành tựu, tuy nhiên, nền giáo dục nước ta đã bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế, bất cập. Chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao, mặc dầu tỷ lệ thi tốt nghiệp là rất cao, nên đầu vào của các trường ĐH và CĐ chưa tương xứng với yêu cầu.

Trong khi các ngành khoa học cơ bản là xương sống của nền khoa học nước nhà thì số thí sinh thi vào các ngành khoa học cơ bản ngày càng ít, với chất lượng ngày càng thấp. Đặc biệt với các ngành Khoa học xã hội thì với kết quả hàng ngàn bài thi môn Lịch sử bị điểm 0 cho thấy một thực trạng hết sức đáng lo ngại về trình độ của học sinh ta hiện nay.

Việc đông đảo thanh niên ham thích được học CĐ, ĐH là chuyện rất đáng quý, nhưng nhiều sinh viên ĐH sau khi tốt nghiệp phải đi tiếp thị mỳ tôm hay các việc làm tương tự để kiếm sống vì không kiếm được việc hoặc không làm được việc đúng chuyên ngành.

Theo TS Huỳnh Công Minh thì thực tế cuộc sống đòi hỏi phải đổi mới toàn diện, đồng thời và đồng bộ trên tất cả các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục từ mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình đến phương pháp dạy học, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức đánh giá. Mục tiêu giáo dục phải đổi mới từ con người khoa bảng thành con người thực tế… Nội dung chương trình phải đổi mới, giảm lý thuyết, tăng cường thực tế.


Chấn hưng nền giáo dục Việt Nam hiện đang là vấn đề cấp thiết (Ảnh minh họa)

Thay đổi phương pháp dạy học từ dạy áp đặt một chiều của người dạy sang tương tác đa chiều, làm cho học sinh thích thú, chủ động và tích cực tự tìm tòi học tập, nâng cao năng lực tự học, học suốt đời, học ở mọi lúc mọi nơi. Đồng thời, phải đổi mới đánh giá học sinh cũng như kết quả học tập hiện nay…

Hiện chương trình dạy học của ta có độ “vênh” so với thế giới. Ví dụ như chương trình và sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông, chương trình nhiều vấn đề nhưng các vấn đề đưa ra ở đây rất "nông", nhiều nội dung không cần thiết trong khi số giờ lại quá ít. Liệu rằng một học sinh 12 tuổi ở nước ta có nhớ nổi sơ đồ cắt ngang của một thân cây trưởng thành với các thuật ngữ khó hiểu như vỏ, tầng sinh vỏ, thịt vỏ, mạch rây, tầng sinh trụ, mạch gỗ?

Học sinh 13 tuổi có thể nhớ các bộ phận thùy khứu giác, thùy thị giác, não trước, tiểu não, hành tủy, tủy sống của con thằn lằn? Tôi thấy cần tham khảo chương trình các nước, tôi đã mua trên 70 cuốn sách giáo khoa Sinh học ở bậc phổ thông ở các nước và thấy chương trình ở ta chẳng giống nước nào cả.

Đánh giá lại chất lượng dạy và học cũng như chương trình sách giáo khoa hiện nay, tôi lại xin mạnh dạn nêu lên vài ý kiến về môn Lịch sử ở bậc phổ thông: Sự kiện có kỳ thi Đại học hàng nghìn thí sinh bị điểm 0 môn Lịch sử không thể coi là chuyện bình thường. Chúng ta biết rằng việc thi môn Sử chỉ có ở rất ít các trường đại học thuộc khối C. Nếu tất cả các thí sinh đều thi môn Sử thì con số điểm 0 chắc là phải lên đến hàng vạn bài. Nhẽ nào Sử học là khoa học thiếu hấp dẫn?

Cần thẳng thắn nhận định rằng ở bậc phổ thông số đông các thầy cô giáo dạy môn Lịch sử đã không làm cho học sinh thích thú. Điều đó theo tôi có thể do chương trình môn Lịch sử chưa thỏa đáng, quá nhiều con số, chi tiết không cần thiết. Học Lịch sử là để rèn luyện lòng yêu nước, chí căm thù quân xâm lược chứ không nhất thiết cần phải nhớ các diễn biến, các tên tuổi phụ - những điều mà nếu muốn cần tìm hiểu thì chỉ cần một cái nhấp chuột trên máy tính là đã có quá đầy đủ mọi chi tiết.

Điều này thể hiện ở các đề thi Lịch sử vào ĐH mấy năm qua, với cách ra đề như vậy thì nhiều chuyện có lẽ thầy cô giáo dạy Sử cũng không thể nào tự nhiên nhớ nổi nên dẫn đến tình trạng học vẹt, học gạo. Theo tôi, không cứ gì chỉ có Khối C mới cần thi môn Lịch sử mà tất cả các ngành học khác như Kinh tế, Ngoại thương, Ngoại giao, Quân đội, Công an… đều rất cần kiến thức lịch sử khi bước vào hoạt động thực tiễn sau khi tốt nghiệp.

 Nếu năm nào không thi môn Lịch sử trong kỳ thi tốt nghiệp THPT (rất phổ biến, vì không bao giờ hai năm liền có thi môn Lịch sử) thì có thể biết chắc là học sinh đánh cờ ca - rô khi nghe thầy cô giảng lịch sử và chắc chắn không hề mở sách giáo khoa ra lần nào trong năm học cuối?

Theo kế hoạch của Bộ GD-ĐT, đến năm 2015 sẽ bàn lại Chương trình giáo dục phổ thông. Sau đó là thí điểm chương trình. Rồi thí điểm viết lại và sử dụng bộ sách giáo khoa. Tôi nghĩ, Bộ nên dựa vào các Hội Khoa học chuyên ngành. Các Hội này sẽ lựa chọn ra các chuyên gia giỏi, kết hợp với các thầy cô giáo có kinh nghiệm lâu năm để biên soạn ngay một chương trình mới.

Bộ GD- ĐT chỉ cần xin các Sứ quán bạn các chương trình Sinh học phổ thông, hay lấy được từ trên Internet để tham khảo kinh nghiệm của một số nước đáng học hỏi. Tổ chức các cuộc hội thảo sâu sắc về nên phân ban sâu hay không phân ban. Bỏ hẳn kiểu phân ban chênh nhau quá ít thời gian như hiện nay.

Chương trình sau khi biên soạn xong cần đưa ra trưng cầu ý kiến rộng rãi trước khi thông qua một Hội đồng Quốc gia đầy đủ tín nhiệm. Sau đó để cho các nhà xuất bản và các nhóm tác giả cạnh tranh qua chất lượng các bộ sách giáo khoa khác nhau (nhà nước không cần tốn kinh phí gì về chuyện này). Bộ sách nào hay sẽ được tái bản nhiều lần (và ngược lại). Tôi mong có thể làm ngay mà không cần đợi đến tận năm 2015.

Việc chấn hưng giáo dục theo tôi không thể chậm trễ hơn nữa. Điều quan trọng không phải là sách giáo khoa mà là Chương trình chuẩn quốc gia cho từng môn học. Chương trình đó phải không chênh lệch quá nhiều so với tinh thần của chương trình ở các nước có nền giáo dục phát triển và phải phù hợp với hoàn cảnh nước ta và điều kiện học tập của học sinh.

Chuyện sách giáo khoa không quan trọng khi đã có Chương trình chuẩn hợp lý‎‎. Rất nhiều nước việc soạn và in sách giáo khoa là chuyện của các nhóm chuyên gia và của các nhà xuất bản. Chuyện tập trung xây dựng một chương trình chuẩn thật hợp lý‎‎ đâu có quá khó trong thời đại hội nhập quốc tế như hiện nay.

Với tư cách một người đã học qua 4 trường Sư phạm (từ sơ cấp đến đại học) và đã tham gia ngành giáo dục suốt từ cuối năm 1956 tới nay tôi hết sức quan tâm đến sự nghiệp Đổi mới ngành Giáo dục và chính vì vậy mới xin phép được nêu lên những ý kiến thẳng thắn trên đây.

 

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
GS Nguyễn Lân Dũng
Bình luận Gửi phản hồi