Thứ tư, 22/11/2017 11:55 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Điều chỉnh sản xuất lúa vùng Nam bộ

25/09/2013, 10:34 (GMT+7)

Ngày 23/9, Bộ NN-PTNT phối hợp với UBND tỉnh Trà Vinh tổ chức hội nghị sơ kết sản xuất lúa năm 2013 - triển khai kế hoạch và giải pháp sản xuất lúa vụ đông xuân 2013 - 2014, khu vực Nam bộ.

+ Định hướng lại công tác giống

+ Kiểm tra, xiết chặt quản lý phân bón, thuốc BVTV

Ngày 23/9, Bộ NN-PTNT phối hợp với UBND tỉnh Trà Vinh tổ chức hội nghị sơ kết sản xuất lúa năm 2013 - triển khai kế hoạch và giải pháp sản xuất lúa vụ đông xuân 2013 - 2014, khu vực Nam bộ.

PGS.TS Phạm Văn Dư, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt cho biết: Năm 2013 sản xuất lúa ở khu vực Nam bộ tăng trưởng rất ổn định về năng suất và sản lượng tuy gặp khó khăn trong việc xuất khẩu. Vụ đông xuân 2012 - 2013 toàn khu vực Nam bộ đã gieo trồng hơn 1,72 triệu ha, tăng 12.865 ha; sản lượng hơn 11,589 triệu tấn, tăng 47.163 tấn so với đông xuân trước. Giá thành sản xuất lúa vụ đông xuân 3.616 đồng/kg, tăng 239 đồng so với cùng kỳ. Còn vụ hè thu, thu đông và vụ mùa năm 2013 ước tổng diện tích cả khu vực Nam bộ tăng 108,5 ngàn ha; tổng sản lượng 27,13 triệu tấn, tăng 0,65 triệu tấn so với cùng kỳ năm 2012.

Mô hình liên kết ở Trà Vinh

Kế hoạch 2014, khu vực Nam bộ sẽ gieo sạ hơn 4,742 triệu ha (đông xuân, hè thu, thu đông và vụ mùa), giảm khoảng 3.261 ha; sản lượng ước trên 27,222 triệu tấn, tăng khoảng 58.739 tấn. Theo đó khu vực ĐBSCL sẽ gieo sạ trên 4,294 triệu ha, giảm 6.863 ha đất trồng lúa; sản lượng ước đạt 24,990 triệu tấn, tăng 36.096 tấn so với cùng kỳ. Trong khi khu vực ĐBSCL giảm thì khu vực ĐNB sẽ tăng diện tích lúa thêm 3.602 ha.

Nhìn nhận lại các vụ sản xuất lúa trong năm của toàn khu vực, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh đánh giá: Mặc dù năm 2013 sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là khu vực ĐBSCL. Đông xuân 2012 - 2013 hạn hán kéo dài, giá cả thị trường ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và thu nhập cũng như điều kiện sản xuất của nông dân trồng lúa. Đặc biệt, giá cả vật tư đầu vào ở mức cao, rất nhiều mặt hàng phân bón chất lượng kém, kể cả hàng giả đã gây sức ép cho sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương đến địa phương cùng với sự nỗ lực của nông dân nên đã có một vụ lúa thắng lợi từ diện tích, năng suất và sản lượng. Điều đáng khen là trong khó khăn nhưng các địa phương đã có những sáng kiến mới trong sản xuất lúa. Vấn đề liên kết đã có rất nhiều địa phương chủ động, doanh nghiệp đã vào cuộc tham gia trên cánh đồng mẫu. Vấn đề chuyển đổi cây trồng các địa phương đã tiếp cận và có các bước đi rất bài bản. Đặc biệt, các địa phương đã chủ động quyết liệt trong vấn đề thời vụ và lựa chọn cơ cấu giống, đây là tín hiệu tốt cần phát huy trong thời gian tới.

Tuy nhiên, qua điều tra thực tế và các cuộc tọa đàm thì còn nhiều địa phương sản xuất 3 - 4 giống trên một cánh đồng nên ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng. Vấn đề tỷ lệ sử dụng giống xác nhận, rất tiếc ĐBSCL là vựa lúa nhưng tỷ lệ 35% là thấp quá, trong khi đó phía Bắc đã có 80% diện tích sử dụng giống xác nhận. Về cánh đồng mẫu lớn thì bước đầu đã tăng trưởng về số lượng, diện tích và năng suất nhưng bản chất và nội hàm của cánh đồng mẫu lớn cần phải bàn vì hiện chúng ta tập trung nặng cho đầu vào nhưng vấn đề liên kết trọn gói với đầu ra vẫn còn hạn chế.

Thứ trưởng chỉ đạo: Vụ đông xuân 2013 - 2014, thứ nhất là thời vụ, các địa phương phải căn cứ thực tiễn mà chỉ đạo cơ cấu thời vụ sao cho ăn chắc và tạo đà cho vụ hè thu. Đối với vụ xuân hè, ĐBSCL vẫn còn 250.000 ha thường bị ảnh hưởng của mặn, phèn và là cầu nối cho vấn đề dịch bệnh. Vì vậy, có 2 lựa chọn: Một là đẩy lịch thời vụ xuân hè sớm hơn để cho trùng được vụ đông xuân; hai là lùi thời vụ xuân hè sao cho trùng với vụ hè thu. Nếu trồng lúa vụ xuân hè khó khăn thì các địa phương nên chuyển mạnh sang cây trồng khác để tránh rủi ro của mặn, phèn.

Vấn đề lựa chọn giống, Cục Trồng trọt phải sớm có văn bản gửi các tỉnh trong việc xác định lại cơ cấu giống, không thể để có quá nhiều giống như hiện nay. Mỗi tỉnh phải có định hướng về cơ cấu giống và phải xác định được giống chủ lực để làm thương hiệu.

Vấn đề sử dụng phân bón, thuốc BVTV cần phải xem xét lại, nếu cứ sử dụng như hiện nay vừa lãng phí vừa ảnh hưởng rất xấu, khó đảm bảo chất lượng sản phẩm. Đề nghị thanh tra các tỉnh phải phát huy nội lực trong kiểm tra chất lượng phân bón, thuốc BVTV. Vấn đề liên kết sản xuất, sau khi Chính phủ chỉ đạo đã có tham gia hào hứng hơn của các doanh nghiệp. Mô hình này cần phát huy để giúp nông dân có thu nhập tốt hơn. Trong chuyển đổi sản xuất các địa phương phải linh hoạt, đồng bộ các giải pháp và quan trọng là phải liên kết đầu ra cho sản phẩm, không nên làm theo phong trào. Đối với 250.000 ha đất sản xuất lúa xuân hè cần nghiên cứu chuyển mạnh sẽ tránh được rủi ro do ảnh hưởng mặn, phèn.

Vấn đề giống, nếu chúng ta làm tốt thì sẽ nâng cao năng suất và chất lượng. Viện Lúa ĐBSCL nên lựa các giống chủ lực sau đó cùng với hiệp hội, doanh nhiệp liên kết lại thành chuỗi giống. Tới đây Bộ NN-PTNT triển khai hai chương trình: Một là chương trình chuyên sản xuất giống lúa phẩm chất cao cho ĐBSCL để đẩy diện tích sử dụng giống xác nhận. Thứ 2, trong sản phẩm quốc gia về lúa gạo đặt riêng nội dung là chuyên sản xuất hạt giống lúa chất lượng qua nhiều kênh nhưng phải có sự quản lý chặt của hệ thống nhà nước và nhà khoa học. Vấn đề sâu bệnh năm 2013 im ắng nhưng chúng ta không được chủ quan trong vụ đông xuân 2013 - 2014 để đạt được thắng lợi...

Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam: Có khả năng trong một vài năm tới tiếp tục thừa lương thực. Chính vì vậy chúng ta cần phải tính toán lại. Tuy thị trường xuất khẩu vẫn còn rộng mở nhưng để đạt giá cao như những năm trước là khó có thể xảy ra.

Vì trong năm 2014, Thái Lan sẽ hạ trợ cấp xuống 13.000 bath/tấn như vậy thì giá vẫn còn cao, nhưng chúng ta vẫn còn nhiều khả năng giữ được thị trường truyền thống. Tỷ trọng xuất khẩu gạo thơm tăng từ 7% (năm 2012) lên gấp đôi vào năm nay. Các thị trường của Thái Lan chúng ta đã xâm nhập và giữ được, đây là hướng mở cho xuất khẩu gạo năm 2014. XK gạo, hiện thị trường châu Á chiếm 64%, châu Phi chiếm khoảng 24%.

THANH PHONG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận