Thứ ba, 17/07/2018 10:55 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Đông xuân 2010-2011 ở phía Nam: Chống hạn là số 1

14/10/2010, 09:42 (GMT+7)

Thông tin đáng lo ngại nhất là tình hình hạn hán, thiếu nước và nguy cơ mặn sẽ xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền.

* Lũ nhỏ nhất lịch sử

Ngày 13/10/2010, tại TP HCM, Bộ NN-PTNT đã tổ chức Hội nghị Sơ kết sản xuất lúa 2010 tại các tỉnh Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, đồng thời triển khai kế hoạch sản xuất vụ ĐX 2010-2011. Thông tin đáng lo ngại nhất là tình hình hạn hán, thiếu nước và nguy cơ mặn sẽ xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền. 

Theo Tổng cục Thủy lợi, ở các khu vực Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên, từ đầu năm đến nay, lượng mưa nhìn chung khá thấp, chỉ đạt 60-70% cùng kỳ nhiều năm. Dòng chảy các sông, suối và các dòng chính ở NB, Nam Trung bộ và Tây Nguyên đều thấp hơn so với mức trung bình của nhiều năm qua.

Ông Hoàng Minh Giám (Đài Khí tượng Thủy văn Nam bộ) cho biết, so với trung bình nhiều năm, lưu lượng nước về các hồ ở ĐNB, Nam Trung bộ và Tây Nguyên chỉ đạt từ 50-80%. Do đó, đến ngày 12/10, phần lớn các hồ đều chưa tích đủ nước, các hồ lớn mới chỉ tích được 30-60% lượng nước. Hồ Dầu Tiếng mới tích được 61% lượng nước, còn thiếu tới 617 triệu m3. Hồ Trị An, Thác Mơ … gần như vẫn đang ở mực nước chết.

Ở ĐBSCL, đến ngày 11/10, mực nước cao nhất trên sông Tiền tại Tân Châu mới đạt 2,98 m, Cao Lãnh đạt 2,91 m. Trên sông Hậu, tại Châu Đốc là 2,51 m, tại Long Xuyên là 2,11 m. Theo dự báo, đến giữa tháng 10, mực nước trên Tân Châu sẽ đạt khoảng 3,10 m, thấp hơn mức báo động I tới 0,4 m. Theo Đài Khí tượng Thủy văn Nam bộ, với mức nước như trên, lũ năm nay chỉ xấp xỉ bằng lũ năm 1998, là một trong những năm lũ nhỏ nhất trong lịch sử ở ĐBSCL.

Thậm chí theo ông Nguyễn Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, với diễn biến lũ đến thời điểm này, đã có thể nói năm 2010 là năm lũ nhỏ nhất trong lịch sử. Bởi dự báo cả mùa lũ năm nay, tổng lượng nước trên sông Cửu Long chỉ bằng 30% so với những năm lũ lớn, bằng 60-70% so với những năm lũ trung bình. So với năm 2008 là năm lũ thấp nhất trong vòng 10 năm qua, tổng lượng nước trong mùa lũ năm nay ở ĐBSCL cũng chỉ bằng khoảng 75-80%. Nếu nhìn lại lịch sử xa hơn nữa, thì năm 1998 cũng có mức nước lũ rất thấp. Nhưng về tổng lượng, mùa lũ năm 1998 vẫn khá hơn mùa lũ năm nay.

Với tình trạng gần như không có lũ, chắc chắn sản xuất lúa vụ ĐX tới ở ĐBSCL sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với những vụ ĐX trước, như không có nước lũ để vệ sinh đồng ruộng, rửa phèn, thiếu hụt một lượng lớn phù sa (theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, lượng phù sa trong mùa lũ năm nay chỉ bằng 20-30% so với năm lũ lớn) … Nhưng mối nguy lớn nhất là cây lúa sẽ phải đối mặt với nguy cơ xâm nhập mặn sâu hơn và khả năng khô hạn vào cuối vụ.

 Theo ông Hoàng Minh Giám, ngay từ tháng 12 tới, một số tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng … đã bắt đầu phải đối phó với xâm nhập mặn. Còn từ tháng 10/2010 đến tháng 3/2011, sẽ có nhiều đợt triều cường ở ven biển ĐBSCL, đẩy nước mặn vào sâu trong nội địa.

Chính vì thế, theo Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Bùi Bá Bổng, trong vụ ĐX tới, khô hạn sẽ là mối nguy cơ lớn nhất, đe dọa sản xuất lúa nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung ở các tỉnh Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Bởi vậy, nếu như trong những vụ ĐX vừa qua, khi lên lịch thời vụ, yêu cầu hàng đầu là né rầy thì vụ ĐX tới, né hạn cuối vụ sẽ là trọng tâm.

Theo đó, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng yêu cầu ngành nông nghiệp và các địa phương coi công tác chống hạn là nhiệm vụ trọng tâm trong vụ ĐX 2010-2011. Công tác này phải được bắt đầu ngay từ trước khi vào vụ (lo trữ nước ngọt, củng cố bờ bao giữ nước …), tới khi vào vụ và cho tới cuối vụ. Sở NN-PTNT các tỉnh, TP trong khu vực phải xây dựng ngay phương án chống hạn để trình lên UBND các tỉnh, TP phê duyệt và triển khai thực hiện.

Các tỉnh, TP cũng nên thành lập ngay Ban chống hạn, xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp trong tình trạng khô hạn, trong đó ưu tiên sử dụng giống lúa ngắn ngày 90-95 ngày). Việc chống hạn cuối vụ phải làm thật nghiêm túc, bởi trong vụ ĐX rồi, dù đã được khuyến cáo, nhưng khi thấy giá lúa cao, nông dân nhiều tỉnh ven biển ĐBSCL vẫn xuống giống khi đã hết lịch thời vụ. Hậu quả là hàng ngàn ha bị thiệt hại nặng do thiếu nước.

Cũng để giảm thiểu thiệt hại cuối vụ do hạn, mặn, cơ cấu diện tích gieo sạ theo lịch thời vụ ở ĐBSCL cần phải được thay đổi. Trong những vụ ĐX trước, việc xuống giống đồng loạt thường được thực hiện vào tháng 11 và tháng 12, với tỷ lệ 50-50 (mỗi tháng xuống một nửa diện tích). Còn trong này, Bộ NN-PTNT đề xuất tăng diện tích gieo sạ trong tháng 11, giảm diện tích tháng 12, theo tỷ lệ mới là 60-40.

Không lo đầu vào, đầu ra?

Theo ông Lê Quốc Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hiện lượng phân bón tồn kho của các DN có hơi thiếu so với nhu cầu vụ ĐX, nhưng nếu cộng thêm lượng phân bón mà các DN đang nhập về, thì đủ đáp ứng cho vụ này. Trong thời gian qua, sự biến động của giá thế giới đã làm tăng giá phân bón trong nước.

Cụ thể, mấy tháng trước, giá urê từ 5.900-6.000 đ kg, DAP từ 9.100-9.300 đ/kg, Kali từ 7.000-7.500 đ/kg, hiện giờ ure là 7.000 đkg, DAP 11.500-12.000 đ/kg, Kali 8.500-9.000 đ/kg … Nhưng theo khảo sát của Hiệp hội Phân bón, sau khi bán lúa HT và vụ TĐ, phần lớn nông dân ĐBSCL đã đi mua ngay phân bón về trữ để chuẩn bị cho vụ ĐX tới. Đến giờ, nông dân đã trữ tới 60-70% nhu cầu phân bón vụ ĐX, có nhiều hộ đã dự trữ 100% nhu cầu của gia đình. Bởi thế, trong thời gian tới, nếu giá phân bón có biến động, sẽ không ảnh hưởng nhiều tới nông dân.

Còn theo ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá lúa gạo từ nay đến đầu năm sau sẽ đứng ở mức cao. Do đó, nông dân sản xuất thu hoạch lúa TĐ, lúa mùa và sản xuất vụ ĐX tới hoàn toàn có thể yên tâm về đầu ra. Thậm chí, vào tháng 1, tháng 2 năm tới, nông dân có thể trúng đậm giá lúa.

THANH SƠN

Đang được quan tâm

Gửi bình luận