Đường dây nóng : 091.352.8198

Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử

Cuối tuần qua, tại TP Đà Nẵng, Trường Đại học (ĐH) Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) phối hợp ĐH Đà Nẵng tổ chức Hội thảo quốc tế với chủ đề “Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử”.

Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử
Hội nghị Hoàng Sa – Trường Sa: Sự thật lịch sử
Tin bài khác

Hội thảo thu hút gần 120 đại biểu gồm các học giả, nhà nghiên cứu uy tín đến từ các nước Mỹ, Đức, Nga, Pháp, Bỉ, Nhật Bản, Australia, Italia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Philippin... và Việt Nam.

SỰ THẬT KHÔNG THỂ CHỐI CÃI

Mở đầu hội thảo, PGS.TS Phạm Đăng Phước, Hiệu trưởng Trường ĐH Phạm Văn Đồng cho hay: Hội thảo quốc tế “Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử” là sự tiếp nối thành công của hội thảo về 2 quần đảo được tổ chức tại Quảng Ngãi tháng 4/2013. Hội thảo lần này diễn ra trong bối cảnh tình hình Biển Đông hết sức phức tạp sau khi Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam.

Hội thảo có 21 tham luận được trình bày và hàng chục ý kiến thảo luận trong 2 phiên và 4 phần thảo luận về các nội dung chính bao gồm: Vị trí và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; thực tế tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo và các tác động của nó đối với hòa bình và ổn định khu vực châu Á - Thái Bình Dương; luật pháp quốc tế về việc xác lập chủ quyền và giải quyết tranh chấp lãnh thổ; việc xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kỳ; triển vọng, giải pháp giải quyết tranh chấp 2 quần đảo.

Phát biểu tại hội thảo, các học giả quốc tế Dmitry Mosyakov (Nga), K. Raja Reddy (Ấn Độ), Jean-Pierre Ferrier (Pháp) đã đề cập đến các tư liệu pháp lý lịch sử khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền hòa bình, liên tục đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: các Châu bản triều Nguyễn; các sách Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Phủ biên tạp lục viết về hoạt động của các đội Hoàng Sa, Bắc Hải thực hiện lệnh của nhà vua đi khai thác và quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...

Các học giả nhấn mạnh, dưới thời Pháp thuộc, Pháp đã nhân danh Việt Nam thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Khi rút khỏi Việt Nam, Pháp bàn giao quyền quản lý 2 quần đảo này cho Việt Nam; các tư liệu pháp lý lịch sử cho thấy Việt Nam đã chiếm hữu hiệu quả, liên tục và lâu dài 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các ý kiến cũng cho rằng Trung Quốc không có bất cứ bằng chứng thuyết phục nào chứng minh Trung Quốc chiếm hữu 2 quần đảo này trước khi dùng vũ lực đánh chiếm phi pháp quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và một số bãi ngầm thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988.

Ông Lưu Anh Rô, Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Đà Nẵng trình bày tham luận: Trung Quốc đã sử dụng lực lượng quân sự, giả dạng ngư dân để từng bước chiếm Hoàng Sa của Việt Nam.

Theo ông Rô, nhìn lại quá trình lịch sử, Trung Quốc từ chỗ không hề có một yêu sách chủ quyền nào, không hề được chính danh trên trường quốc tế như một quốc gia có chủ quyền tại Hoàng Sa, để rồi sau đó chiếm quần đảo này từ tay của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), bất chấp luật pháp quốc tế.

Cụ thể trong 2 ngày 17 - 18/1/1974, Trung Quốc trắng trợn tăng cường lực lượng quân sự và cố tình khiêu khích, họ huy động các chiến hạm tiến sâu vào hải phận phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Ở cái thế chẳng đặng đừng, VNCH đã quyết định khai chiến. Trận hải chiến lớn nhất và dữ dội nhất giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung Quốc nổ ra vào sáng ngày 19/1/1974. Với cuộc “tiểu chiến tranh” chớp nhoáng đó, Trung Quốc đã chiếm nốt phần phía Tây của quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và làm cho 58 binh sĩ VNCH hy sinh trong khi bảo vệ Hoàng Sa.

KIỆN TRUNG QUỐC

Tướng Daniel Schaeffer, chuyên gia Bộ Quốc phòng Pháp phê phán mạnh mẽ tính phi lý “đường lưỡi bò”. Ông cho rằng, Trung Quốc đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” không kèm theo bất cứ lời giải thích nào nên hoàn toàn không có giá trị. Trong thời gian qua, Trung Quốc đã ráo riết hiện thực hóa yêu sách phi lý “đường lưỡi bò” bằng các hành động xâm phạm chủ quyền các nước Philippin, Việt Nam, Malaysia.

Theo tướng Daniel Schaeffer, vấn đề “đường lưỡi bò” không thuộc trách nhiệm của riêng nước nào trong khu vực mà là của cả cộng đồng quốc tế; cần phải đạt được sự đồng thuận quốc tế để yêu cầu Trung Quốc từ bỏ yêu sách “đường lưỡi bò”.

Đồng quan điểm, các đại biểu nhất trí rằng, việc căn cứ vào những chứng cứ pháp lý, lịch sử dựa trên luật pháp quốc tế về quyền thụ đắc lãnh thổ để giải quyết tranh chấp về chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.

Những hành động sử dụng sức mạnh, cố ý phá vỡ nguyên trạng, gây bất ổn khu vực, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ nước khác nhằm thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông của bất kỳ bên nào đều không thể chấp nhận. Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng hành động của Trung Quốc sử dụng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và chiếm đóng bất hợp pháp một số bãi ở quần đảo Trường Sa năm 1988 là vi phạm luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; hành động xâm chiếm bằng vũ lực không thể tạo ra chủ quyền.

Nằm trong khuôn khổ hội nghị, ngày 21/6, tại Bảo tàng Đà Nẵng đã diễn ra triển lãm “Hoàng Sa - Trường Sa: Sự thật lịch sử” với hơn 200 bản đồ, tư liệu, hình ảnh, hiện vật. Trong đó có gồm 4 cuốn Atlas; bản đồ; giới thiệu phiên bản một số văn bản Hán Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do các nhà nước phong kiến Việt Nam ban hành vào thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX - khẳng định Nhà nước Việt Nam đã xác lập và thực thi quyền liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đến nay.

Nói về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, nhiều học giả đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ, nhất là các hành động bạo lực của các tàu Trung Quốc đâm va, phun vòi rồng công suất lớn vào các tàu dân sự của Việt Nam đang thực thi nhiệm vụ trên biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, đâm chìm tàu cá Việt Nam.

Để duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, các bên liên quan cần kiềm chế, tăng cường xây dựng lòng tin, không có những hành động đơn phương, phá vỡ nguyên trạng. Các học giả kêu gọi Trung Quốc sớm cùng với các nước ASEAN xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với tính ràng buộc cao để ngăn ngừa những hành động leo thang, gây căng thẳng ở Biển Đông.

Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng các nước đang tranh chấp cần coi trọng hơn các công cụ pháp lý và cơ chế trọng tài quốc tế theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam có thể sử dụng công cụ pháp lý thông qua Tòa Trọng tài theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để bảo vệ các quyền lợi và lợi ích của mình trước hành vi xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Giáo sư Jerome Cohen, Chủ tịch Viện luật pháp Hoa Kỳ - Châu Á, đề xuất: Việt Nam có thể tham gia vụ kiện với Philippin hoặc tự khởi kiện Trung Quốc, và khuyến nghị các nước liên quan nên tận dụng sự trợ giúp của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ) hay hệ thống thể chế pháp lý của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.

“Việt Nam sử dụng cơ chế tài phán quốc tế chứng tỏ cố gắng của Việt Nam tận dụng mọi biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Tuy sử dụng công cụ pháp lý là phức tạp và đi kèm với những rủi ro, nhưng đối với các nước nhỏ thì việc sử dụng pháp lý là cơ hội để bảo vệ các lợi ích của mình phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế và Hiến chương của Liên hợp quốc”, ông Cohen nhấn mạnh.

Còn giáo sư Carlyle A Thayer, Học viện Quốc phòng Úc cho rằng, tranh chấp hiện nay về quyền và chủ quyền trong các vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa chỉ có thể giải quyết dựa trên Luật pháp Quốc tế bao gồm Công ước Liên Hiệp quốc về Luật Biển năm 1982. Việt Nam cần tranh thủ mạnh mẽ điểm này trong các trao đổi cấp Chính phủ với Trung Quốc.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
ĐẮC THÀNH
Bình luận Gửi phản hồi