Đường dây nóng : 091.352.8198

Hồi ký con gái một điệp viên CIA: Mùa hè ở Sài Gòn

Sarah Mansfield Taber, con gái một điệp viên CIA nhớ lại thời gian hão huyền nhưng ám ảnh cô sống ở Sài Gòn, Việt Nam cộng hòa trước khi chính phủ này sụp đổ. 

Hồi ký con gái một điệp viên CIA: Mùa hè ở Sài Gòn
“Nhà số bảy”, nơi CIA phát các chương trình radio tuyên truyền nhằm vào người dân Bắc Việt. Ảnh tư liệu của Sarah Mansfield Taber
Tin bài khác

Từ một người ngoại đạo, bị che mặt, bịt tai, sự thật về cuộc chiến Việt Nam dần hiện ra trong mắt tác giả, lúc đó là mới 20 tuổi. Bài đăng trên tạp chí American Scholar ngày 8/6/2015.

Một tối mùa hè ở Sài Gòn năm 1974, chúng tôi được mời dự tiệc tại nhà một nhân viên đại sứ quán Mỹ, có thể cũng là nhân viên CIA “chìm” như cha tôi. Tôi không nhớ rõ ông ấy là ai, nhưng tôi còn nhớ căn nhà, một kiến trúc tao nhã có từ thời thuộc địa với trần cao, nền gạch hoa, bao quanh là những bức tường bê tông cao.

Những ngôi nhà kiểu Pháp

Chúng tôi đi bộ trên phố, băng qua trước mặt hai cảnh vệ và lách vào một cánh cửa nhỏ dẫn tới tiền sảnh. Đất nước này đang trong thời kỳ chiến tranh, và quân địch (quân đội Bắc Việt - ND) đang tiến bước vững chắc trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Tuy vậy, tôi lúc ấy còn là sinh viên, bám theo cha mẹ tôi, những người ăn bận những bộ đồ đặt may tới dự một bữa tiệc đồ ăn Pháp, do các thiếu nữ Việt Nam xinh đẹp phục vụ.

Sau bữa tiệc, mẹ tôi ngà ngà say. Chúng tôi tiếp tục vui chơi trong không khí nóng bức của đêm vùng nhiệt đới, tại vườn cây với rất nhiều chậu gốm trồng hoa. Không thấy bóng lính gác nào. Cảnh vệ, trong những quầy nhỏ, có lẽ đã buồn ngủ sau một ngày dài đứng gác dưới cái oi bức dường như bất tận.

Mấy người trong sứ quán đùa rằng họ hy vọng lính gác sẽ đánh thức họ dậy nếu có Việt Cộng tới. Lúc đó ở Sài Gòn, ai ai cũng tỏ ra kiệt sức. Không ai biết chiến tranh lúc nào sẽ kết thúc và mọi người cứ gặm nhấm thời gian của mình chậm rãi trong âu lo, đợi chờ đến lúc tàn cuộc.

Cuộc vui chơi rồi cũng tàn, chúng tôi vào xe hơi và cha tôi vào số. Khi xe vừa lăn bánh, ông bật cười vừa nhấn ga mạnh. Cái kiểu ông cười khùng khục trong cổ họng lúc này thật là kỳ lạ.

“Nhìn này”, cha tôi nói, chỉ tay vào tấm kính chắn gió của ô tô. Chúng tôi nhìn theo tay ông chỉ. Kính quá trong, mọi thứ trước mặt thật rõ ràng, gần như không tồn tại cái kính. Hay là chúng tôi bị ảo giác? Và rồi cha tôi thò hẳn tay vẫy vẫy qua tấm kính. Thực ra là tấm kính chắn gió của chiếc xe đã bị bóc đi mất, ngay trước mũi lính gác. Cha tôi lại cười. “Lính gác đã ăn rơ với kẻ trộm. Bố chắc chắn sẽ tìm thấy tấm kính chắn gió ở chợ đen sáng mai”.

Mùa hè năm đó tôi tròn 20 tuổi.

Một tháng trước, sau chuyến đi dài từ trường đại học của tôi ở Minnesota, quá cảnh ở San Francisco và Hong Kong, tôi đã tới được Sài Gòn để nghỉ hè với cha mẹ tôi.

Khi tôi nhìn ra cửa sổ chiếc máy bay của hãng Pan Am, suy nghĩ vẩn vơ đưa tôi về cuốn sách tôi đã đọc về Việt Nam, cuốn "Người Mỹ trầm lặng" của Graham Greene.

Trong cuốn tiểu thuyết ấy, sự giễu cợt đầy trí tuệ của Thomas Fowler, phóng viên chiến tranh kỳ cựu người Anh luôn đối lập với chủ nghĩa lý tưởng ngây thơ mà Alden Pyle, điệp viên CIA người Mỹ theo đuổi. Kết hợp tính lãng mạn và lý luận kiểu khoa bảng với sự thiếu kinh nghiệm thực tiễn, Pyle luôn tìm cách xây dựng một “Lực lượng thứ ba” dân chủ, không thực dân, không cộng sản. Fowler, trái lại, nghi ngờ rằng người Việt bị dẫn dắt bởi các ý tưởng đại loại như sự tự do.

“Họ muốn có đủ gạo ăn… Họ không muốn bị bắn. Họ muốn một ngày nào đó cũng được ngang bằng với các dân tộc khác. Họ không muốn người da trắng chúng ta đến bảo họ là họ muốn gì”.

Khách sạn Duc

Tôi hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất và quang cảnh đúng như những gì tôi thử hình dung về một sân bay thời chiến. Đầy lính tráng, trong quân phục kaki, súng ống lỉnh kỉnh. Dân chúng tay xách nách mang cũng lỉnh kỉnh không kém, những chiếc túi luôn căng phồng đồ đạc. Tôi cảm nhận sự lo âu trên khuôn mặt nhiều người. Họ đang bỏ chạy. Ngực tôi cảm thấy thắt lại.

south-vietnmese-ir-force-firchild-c-123b-15-f-provider-55-4565164048709
Một chiếc vận tải cơ C-123B của Không quân Việt Nam cộng hòa đậu tại sân bay Tân Sơn Nhất, phía sau là những chiếc C-130 hiện đại hơn (ảnh: wikipedia)

Khi tôi bước vào ngôi nhà cha mẹ tôi ở, vẻ tao nhã tinh khôi của ngôi nhà ngay lập tức thu hút sự háo hức của tuổi trẻ với những cái đẹp trong tôi, giúp tôi tạm quên đi sự mệt mỏi do di chuyển dài bằng máy bay, sự cách biệt múi giờ.

Nhưng mẹ tôi có tin chẳng hay ho với tôi lắm: “Nhà này chỉ có hai phòng ngủ, do vậy bố mẹ nghĩ, bởi vì con đã lớn, có lẽ con nên đến khách sạn Duc, là khách sạn của đại sứ quán. Ở đó con sẽ có phòng riêng kèm theo cách dịch vụ. Sẽ ổn thôi”.

Giọng mẹ tôi cứ như không có chuyện gì. Tôi ngước nhìn bà, bên cạnh là cha và em trai tôi. Mẹ tôi đặt tay lên vai Andrew, em trai tôi. Em trai tôi ở trong ngôi nhà tao nhã, trần cao, cửa sổ kiểu Pháp với ban công nhìn ra vườn còn tôi thì ở khách sạn một mình? Chẳng vui tí nào cả. Tôi cảm giác với mẹ tôi, chỉ cần có thằng Andrew và cha tôi là đủ.

Mẹ tôi vội vàng nói thêm: “Có một bể bơi trên nóc khách sạn Duc. Con sẽ thích nó. “Mẹ muốn sao cũng được”, tôi trả lời.

Duc không hẳn là khách sạn của Đại sứ quán Mỹ. Thực chất đây là nơi ở của các điệp viên Mỹ.

Nó rất yên tĩnh. Ở tầng trệt, một tiếp tân ngồi trước một cái quầy và luôn có vài quân cảnh lởn vởn xung quanh. Cha tôi đưa thẻ căn cước và giới thiệu tôi. Trong thời gian ở đây, tôi thỉnh thoảng thấy một người đàn ông mặc quần áo kaki nhàu nhĩ, có lúc cầm cái vali, hay một người đàn ông râu ria mặc quần short đi lên quầy bar trên nóc nhà, nhưng không gặp phụ nữ hay thiếu niên nào.

Sáng hôm sau, tôi gọi điện cho mẹ tôi và một lát sau, một chiếc ô tô đến đón tôi, chạy tới số 151 đường Phan Đình Phùng. Một đầu bếp phục vụ tôi xoài và bánh mì nước kiểu Pháp và trứng chiên. Mẹ tôi tỏ ra rất vui vẻ, chắc là để xoa dịu sự khó chịu lúc đầu của tôi.

Rồi bà thông báo bố tôi đã tìm cho tôi một công việc hiếm trong dịp hè tại Đại sứ quán Mỹ. Tôi sẽ phụ trợ nhân viên ở đó. Ngoài ra, tôi có thể tới thăm bất cứ chỗ nào tôi muốn. Mùa hè ở Sài Gòn của tôi bắt đầu.

Bởi cha tôi làm việc cho tình báo Mỹ dưới vỏ nhà ngoại giao nên tôi có điều kiện đến nhiều chốn mà người khác khó lòng đến được, kể cả những vùng có dân nghèo, vùng chiến sự… (Còn nữa)

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Nguyễn Xuân Thủy
(lược thuật)
Bình luận Gửi phản hồi