Đường dây nóng : 091.352.8198

Hơn cả chuyện cổ tích

Bàn chuyện chia của, chị dâu ngọt nhạt: Chú là đàn ông, giống đực, cứ thứ gì giống đực là của chú, còn giống cái thuộc của tôi...

Tin bài khác

Câu chuyện này xảy ra ở một tỉnh miền Tây-Bắc nước ta. Cũng mới đây thôi. Vậy mà nghe cứ như chuyện cổ tích.

Có hai anh em, anh tên Cần, em tên Kiệm. Chẳng may bố mẹ đột ngột qua đời, gia tài để lại chỉ có một ngôi nhà sàn, một mảnh vườn và một cái ao nhỏ. Gia súc cũng chẳng có nhiều. Trước khi bố mẹ qua đời, họ sống với nhau rất thân thiết. Khi ông anh lấy vợ được vài tháng, thì bố mẹ bị tai nạn lở núi trong lúc đi làm nương, cả hai cùng thiệt mạng rất thương tâm.

Họ sống với nhau cỡ chừng nửa năm, thì bắt đầu nảy sinh những điều bất tiện. Nguyên do cũng tại cô chị dâu khôn ranh nhưng tham lam.

Cô vợ tỉ tê bàn với chồng rằng: Anh em sống chung một nhà, đã là bất tiện. Nay anh đã có vợ, vài năm nữa thêm con cái, không lo sớm rồi đến lúc hối không kịp. Các cụ chả nói “anh em kiến giả nhất phận” là gì? Anh chồng còn đang phân vân, chưa biết anh em ở riêng chia chác ra sao, thì cô vợ đã rỉ tai: “Như thế!...Như thế!...”. Anh chồng sực tỉnh…

Một hôm, ông anh mới gọi chú em lại, mà rằng: “Chú Kiệm này. Anh em khi chưa có gia đình, ở với nhau đến già cũng được. Nhưng nay tôi đã…Vậy thì chú tính sao?”. “Dạ! Anh tính sao, em nghe vậy. Anh em đi đâu mà thiệt”. “Chú nói phải lắm! Vậy thì để tôi bảo chị lên đây nói chuyện với chú, cho nó khách quan”.

Ông anh Cần nói chưa dứt lời, bà chị dâu đã xuất hiện ngay trước mặt. Thị cười cười: “Anh chú đã nói vậy, thì tôi tính thế này. Chú là đàn ông, giống đực, cứ thứ gì giống đực là của chú. Còn thứ gì giống cái, thuộc của tôi. Chú thấy thế nào?”.

“Quả thật, em chưa hiểu”.

“Có gì mà không hiểu. Thế này nhé! Trong chuồng, gà sống là của chú. Gà mái là của chúng tôi. Trâu đực là của chú. Trâu cái của chúng tôi”.

Thật thà và không hiểu thâm ý của vợ chồng ông anh, chú em vui vẻ gật đầu. Lập tức gia tài được định đoạt ngay.

Chú em lấy một con trâu (đực), một con gà sống, một con vịt đực, một con ngỗng đực, một con chó vàng và một con dao rựa (đực rựa).

Còn lại, ông anh bà chị lấy các thứ “cái”, như cái nhà, cái chuồng, cái ao, cái vườn, cái cây, cái bếp…Tóm lại, ông anh chiếm gần trọn gia tài bố mẹ để lại.

Chia xong, cậu em đành lủi thủi dắt trâu, dắt chó và dắt con “đực rựa” vào cạp quần, ra khỏi nhà.

Tưởng rằng mắc bẫy ông anh, chú em sẽ cay cú lắm. Nhưng không, chú Kiệm lại rất lễ phép cúi chào ông anh bà chị trước khi ra đi.

Thực ra thì chú Kiệm cũng đã có chủ ý.

Chú sang nhà ông Trưởng bản, thưa rằng: “Cháu được biết bản ta có chủ trương giao khoán rừng. Những năm trước, cháu không có điều kiện, nên không dám nhận. Nay xin ông Trưởng giải quyết cho”.

Trưởng bản bèn bảo: “Những cánh rừng gần, đã có các hộ nhận cả rồi. Chú chịu khó đi xa, thì tôi sẽ giải quyết”.

Kiệm vui vẻ: “Đối với cháu, xa xôi có nghĩa lý gì đâu. Cháu xin nhận”.

Thế là chú Kiệm được giao khoán trông coi một vạt rừng vào loại “khó gặm” nhất. Bù lại, chú được nhận đất bìa rừng để làm nhà trông coi.

Thế là với thanh “đực rựa” trong tay, với chú chó vàng bàu bạn sớm hôm, chả mấy chốc Kiệm dựng được nhà, khoanh được ao, đào được mương dẫn nước. Những khoảng đất trống, đất bìa rừng, Kiệm trồng sắn, ngô, khoai, cây ăn quả. Chân đồi núi, chú trông tre, luồng…

Sau một năm, đã thu hoạch được hoa màu, có của ăn của để. Từ sản phẩm lương thực, chăn nuôi, chú dần dần sắm được vật dụng sinh hoạt, chả thiếu thứ gì.

Chăm chỉ và có sức khỏe, biết cách suy nghĩ, chú Kiệm bỗng vượt hẳn lên so với những người nhận khoán rừng trước đó, chỉ biết khai thác mà không biết bù đắp.

Người ta bảo “Phúc bất trùng lai”, với Kiệm là ngoại lệ. Chú đã tìm được một cô nàng vừa đẹp người vừa đẹp nết. Họ sống với nhau mà chả cần cỗ bàn đám cưới linh đình. Và cái nơi xương xẩu khó nhằn nhất, chẳng dấu chân người ngày nào, thì nay tấp nập người đến tham quan, học hỏi kinh nghiệm làm ăn của vợ chồng Kiệm.

Lại nói về vợ chồng ông anh. Sau khi cậu em ra đi, thì không hiểu sao, việc làm ăn của anh ta cứ ngày càng lụi bại.

Đầu tiên là con trâu cái lăn ra chết. Rồi lúa nương mất mùa, khiến anh ta phải bán bớt gia súc, lấy tiền chi tiêu và trả nợ. Buồn tình, anh ta mắc chứng nghiện rượu, thậm chí bị người xấu rủ rê cờ bạc, phải cầm cố cả vườn tược.

Bà vợ thấy chồng chỉ làm cho của cải “đội nón ra đi” nên dù đã hai mặt con, vẫn quyết đuổi chồng ra sống ngoài rẫy. Cực chẳng đã, ông đành đến cầu cứu người em.

Không chấp chuyện cũ, chú em bèn đến xin ông Trưởng bản giao cho ông anh một hec-ta rừng khoán, rồi xúm vào làm cho một cái vừa là nhà vừa chòi canh trên mảnh rừng nhận khoán ấy. Trong lúc chân ướt chân ráo, chưa biết trông cậy vào đâu, chú em lại cấp đỡ cho ông anh gạo, mắm và một số vật dụng tối thiểu. Hướng dẫn ông anh trồng sắn, ngô trên vạt đất chân bìa…

Nhưng vốn lười biếng đã thành cố tật, lại thêm thói nghiện rượu khó bỏ, chỉ chưa đầy một năm, rừng của ông anh đã xác xơ. Một phần do không bỏ công chăm sóc. Một phần để kẻ xấu phá phách. Chính vì thế, Trưởng bản bèn thu hồi lại, giao cho người khác chăm nom.

Bí bách, ông ta phải bán cái chòi cho chủ mới, rồi không biết phiêu bạt nơi đâu.

Dân bản đồn rằng, ông ta đã biến thành con lợn rừng. Vì tiếc của, đêm đêm lại mò về đất cũ, dũi đất đào sắn, đào khoai. Đã có lần suýt bị chủ mới cho xơi một viên đạn ghém…

Thực hư thế nào, không rõ. Chỉ biết bây giờ ở bản, không ai còn thấy bóng dáng ông ta.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Đỗ Cử Nhân
Bình luận Gửi phản hồi