Đường dây nóng : 091.352.8198

"Khắc tinh" đất chua phèn

Việt Nam có 3,8 triệu ha đất lúa thì có tới 2 triệu ha là đất chua phèn, chủ yếu là các vùng trũng, lầy thụt được bồi đắp bởi các lưu vực sông, suối. 

Khắc tinh đất chua phèn
Phân bón Văn Điển phát huy tại vùng đất nhiễm mặn chua phèn Kim Sơn, Ninh Bình
Tin bài khác

Diện tích đất loại này chiếm tới 50% diện tích lúa và là tác nhân làm hạn chế năng suất lúa.

Cải tạo đất

Đất vùng đồi núi trung du miền núi phía Bắc phần lớn chua do được phát sinh trên nền đá mang nhiều chất sắt hình thành nên đất Feralit, vùng đất đỏ Tây Nguyên hình thành trên nền đất bazan giàu nhôm (đất boxit), vì vậy hầu hết các loại đất này thường chua, có độ pH = 4 - 5, làm hạn chế năng suất cây trồng tại các vùng này

Nguyên nhân chủ yếu là, trong đất chua phèn, lượng lân bị cố định gắn vào keo đất trở nên khó tiêu tăng theo với lượng lân bón vào đất. Như vậy trên loại đất này, hiện tượng cố định hóa học lân là rất nghiêm trọng, cường độ hấp thụ lân tỷ lệ thuận với ion sắt và nhôm và tỷ lệ nghịch với giá trị pH của đất.

Trước đây, bà con ở đây thường có tập quán bón DAP, ít dùng phân lân nội (Superphosphate hoặc phân lân nung chảy).

Nông dân cũng chưa nắm bắt kỹ thuật bón lân cho lúa, lượng phân lân sử dụng rất biến động thay đổi từ 17 - 280 kg P2O5/ha ở vụ ĐX (trung bình 71,8 kg, tương đương 640,8 kg lân quy chuẩn/ha ) và từ 8 - 147 kg P2O5/ha ở vụ HT (trung bình 63,7 - 382.2 kg/ha), tại đây nông dân thường gặp rất nhiều khó khăn, rủi ro và thậm chí gặp thất bại trong quá trình khai hoang trồng lúa trên đất phèn nặng do chưa có hiểu biết, thiếu phương tiện và kỹ thuật cần thiết.

Từ những năm 60 của thế kỷ 20, loại phân lân nung chảy Văn Điển lần đầu tiên có mặt ở nước ta, khi bón phân lân nung chảy vào đất, bà con nhận xét thấy hiện tượng cố định lân không xảy ra, do lân sẽ tan từ từ trong axit do rễ cây tiết ra nên không xảy ra hiện tượng này; mặt khác, phân lân nung chảy là loại phân kiềm tính sẽ làm tăng độ pH của đất, 1 kg lân nung chảy có tác dụng khử chua tương đương với 0,5 kg vôi bột nên không bị cố định lân mà còn làm giảm hiện tượng cố định lân của các dạng phân lân hòa tan khác.

Phân nung chảy Văn Điển trở thành thương hiệu không thể thiếu trên các đồng đất chua trũng, đồi núi, cao nguyên; là “khắc tinh” cải tạo đất chua phèn, trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu giúp người nông dân bội thu.

Kết quả điều tra trên các vùng đất chua phèn cho thấy, lượng phân lân nung chảy và các phân NPK đa yếu tố trên nền lân nung chảy của Cty CP Phân lân nung chảy Văn Điển chiếm tỷ lệ rất lớn, 50 - 80% ở nhiều địa bàn Tây Nguyên, Nam bộ và các tỉnh phía Bắc.

Đồng hành vùng chua phèn

Về các dạng phân lân bón cho cây trồng trên các loại đất chua phèn bà con nông dân nhận thấy, hiệu lực của lân Văn Điển (Thermophosphate gọi tắt là TP) thường cao hơn hẳn Super lân hay DAP khi bón đơn độc các loại phân này.

Hiệu quả cao của việc bón lân Văn Điển có thể được giải thích bằng thành phần của loại phân này. Ngoài chất lân (P2O5) chiếm từ 14,5 -15%, trong thành phần lân Văn Điển còn có CaO (25 - 28%), MgO (17 - 20%), SiO2 (24%) và một số nguyên tố vi lượng, không có một loại phân bón nào khác chứa nhiều các thành phần trung vi lượng như vậy. Có thể gọi đây là loại phân lân đa lượng với hàm lượng dễ tiêu cho cây trồng tới 98%.

Để thuận lợi khi bón, thay cho dạng bột trước đây, hiện đã có loại TP vê viên, khử bỏ các gai nhọn giúp bà con không bị khó xử khi bị dằm tinh thể đâm vào da tay. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy bón phối hợp giữa lân Văn Điển (dùng bón lót) và DAP (dùng bón thúc) và kali làm cho năng suất lúa đạt cao nhất:

Lân là yếu tố chính hạn chế năng suất lúa trên đất phèn nặng. Bón lân phải nhằm hai mục tiêu: (i) cung cấp dinh dưỡng lân và (ii) hạ độ chua phèn trong đất. Các kết quả thí nghiệm, thực nghiệm cho thấy năng suất cây trồng tăng theo lượng lân bón.

Tuy nhiên, theo năm canh tác lượng lân bón thích hợp có thể giảm dần do trong đất có dư lại lượng lân dễ tiêu mà cây chưa tiêu thụ hết, vì vậy bà con có kinh nghiệm, những năm đầu mới khai hoang, lượng lân bón cần rất cao, những năm sau lượng lân có thể giảm.

Canxi tạo thành canxi pectat - một thành phần quan trọng trong vách tế bào, giữ cho thành tế bào được vững chắc. Canxi còn duy trì cân bằng anion - cation trong tế bào, nên còn được xem là yếu tố chống độc cho cây. Thiếu Ca2+ chức năng sinh lý của rễ sẽ không bình thường, cây không đồng hóa được nitrat (NO3), trao đổi chất trong cây bị rối loạn.

Lượng canxi rất giàu trong lân Văn Điển ≥ 28%, 1 kg phân lân nung chảy tương đương 0,5 - 0,7kg canxi cacbonat, do vậy bón phân lân nung chảy không cần dùng vôi để khử chua như khi dùng các loại phân lân khác. Như vậy canxi cũng có tác dụng gián tiếp đến hiện tượng cố định lân thông qua việc tăng giá trị pH của đất.

14-02-56_p1140409

Magiê rất giàu trong TP với lượng ≥ 17%, cùng với canxi góp phần làm tăng độ bão hòa kiềm của đất, cải thiện khả năng trao đổi cantion của đất. Magiê kích thích hoạt động của nhiều loại men, là thành phần của diệp lục, liên quan đến việc đồng hóa CO2 và tổng hợp protein.

Magiê cũng điều chỉnh pH và cân bằng cation - anion nội bào. Magiê có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành hoạt động của các enzym tham gia trao đổi nitơ và trao đổi chất, có tác dụng thuận lợi cho sự ra hoa, tạo hạt lúa chắc mẩy.

Silic trong lân Văn Điển chứa tới ≥ 24% SiO2 hòa tan, có tác dụng làm cho cây trồng hút cân đối các chất dinh dưỡng, cải thiện quá trình trao đổi chất, làm tăng tỷ lệ sử dụng đạm. Silic có tác dụng điều tiết hút lân. Ở đất có nhiều Fe, Al di động như đất chua phèn, silic có tác dụng hấp thụ Fe, Al do đó nâng cao khả năng sử dụng lân. Silic cũng nâng cao lượng hút các nguyên tố vi lượng Mn, Zn, Cu, B…

Bón silic giúp cho cây lúa cứng cáp, giữ được bộ lá xanh đậm lâu, hấp thu tốt ánh sáng, giảm tỷ lệ lúa đổ tới 65% so với đối chứng. Silic có tác dụng tăng sức đề kháng cho cây trồng, tăng khả năng kháng bệnh, như bệnh tàn lụi khô héo, bệnh thối rễ và bệnh đốm mép lá. Ngoài ra, silic còn có tác dụng cải thiện chất lượng nông sản, với cây lúa làm tăng tỷ lệ gạo nguyên tới 4,9%.

Các loại phân bón đa yếu tố phù hợp với đất chua phèn

Ngoài sản phẩm chính là phân lân nung chảy, Cty CP Phân lân nung chảy Văn Điển hiện đang cung cấp nhiều loại sản phẩm phân bón đa dinh dưỡng (đa yếu tố ĐYT- NPK) cho các vùng chuyên canh phù hợp với các loại đất chua phèn:

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (5.10.3.16.8.15.2, 10.10.5.16.8.15.3, 6.11.2.20.10.15.2, 16.5.17.8.5.7.2) là bốn loại phân chuyên bón cho cây lúa, rau màu và cây ăn quả qua các thời kỳ sinh trưởng.

Phân đa yếu tố (ĐYT) N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (10.8.12.15.8.13.3) và 10.5.12.7.7.6.3 chuyên dùng cho cây cao su và cà phê.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (12.8.12.15.8.13.3, 16.6.16.7.7.6.2) dùng để bón thúc cho nhiều loại cây như: Cà phê, cao su, tiêu, lúa, mía, dứa....

Bên cạnh đó, Cty CP Phân lân nung chảy Văn Điển còn có loại Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (9.9.12.12.7.9.2 và 22.5.11.9.5.8.2) chuyên dùng cho bón lót và bón thúc khoai tây.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (4.12.7.16.8.15.2) chuyên dùng cho đỗ, lạc.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (6.12.5.16.8.15.2, 15.5.20.8.5.7.2) chuyên bón cho mía dứa.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (5.6,5.27.11.6.9.2) chuyên dùng cho cây dưa hấu.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (5.8.20.12.6.9.2) chuyên dùng cho cây ớt.

Phân ĐYT N-P-K-CaO-MgO-SiO2-S (4.10.4.14.7.12.2, 4.12.4.16.8.13.2) chuyên dùng cho cây ăn quả và 16 loại phân chuyên dùng cho cây chè, 4 loại cho cây dâu tằm…

Phân lân Supe tecmô phát huy ưu điểm của hai loại phân lân: Lân Super tan ngay để cây hấp thụ thời kỳ đầu, lân nung chảy chậm tan để cung cấp dinh dưỡng cho thời kỳ sau và cải tạo đất, loại phân bón này phù hợp cho những cánh đồng không chua, đồi dốc.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
PGS.TS. Mai Quang Vinh
Bình luận Gửi phản hồi