Đường dây nóng : 091.352.8198

Mô hình tự chủ công lập

Hiệu quả rõ nét nhất là từ khi chuyển đổi mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn theo phương án đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ về tài chính.

Tin bài khác


Mô hình quản lý nước công lập được tự chủ về tài chính rất hiệu quả

Sau 4 năm chuyển đổi mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn theo phương án đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ về tài chính thì Trung tâm Nước sạch và VSMTNT Bến Tre đã giúp được hơn 40% hộ dân với hơn 50.000 người được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn của Bộ Y tế.

Ông Phạm Trung Tín, Phó Giám đốc Trung tâm Nước sạch và VSMTNT Bến Tre, cho biết hằng năm vào mùa khô hạn, nước mặn từ biển Đông xâm nhập sâu vào đất liền làm 2/3 nguồn nước mặt trên toàn tỉnh bị nhiễm mặn.

Độ mặn từ 1-1,20/00 gần như bao phủ toàn tỉnh với thời gian dài gây ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và làm đảo lộn cuộc sống của cư dân nông thôn.

Trong khi đó, nguồn nước ngầm trên địa bàn Bến Tre đều bị nhiễm mặn không đạt tiêu chuẩn để khai thác sử dụng, ngoại trừ một vài khu vực ở huyện Thạnh Phú và huyện Châu Thành.

Để có nước đạt quy chuẩn của Bộ Y tế phục vụ dân sinh thì 45 nhà máy phải khai thác từ nguồn nước trên sông, rạch xử lý cung cấp cho người dân tại những khu tập trung và ở ven lộ, còn bà con sống phân tán, ở vùng sâu vùng xa, ven ruộng, vườn… thì vẫn còn khó khăn về nước sạch.

Để đạt được con số 50.000 cư dân nông thôn hết khát nước sạch sinh hoạt, trong những năm qua Bến Tre được Trung ương và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư cho Chương trình MTQG Nước sạch và VSMTNT.

Hiệu quả rõ nét nhất là từ khi chuyển đổi mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn theo phương án đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ về tài chính.

Khi chuyển phương án quản lý thì cơ sở vật chất, trang thiết bị cấp nước sạch được đảm bảo tốt, nguồn tài nguyên nước mặt được bảo vệ tránh cảnh khai thác vô tội vạ, kiểm soát được đầu ra của nước sạch, kiểm soát được chất lượng nước phục vụ dân sinh, giá nước sạch nông thôn thấp hơn khu vực thành thị.

Nhờ phương án quản lý tốt đã nâng dần tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 86% và cư dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt chuẩn của Bộ Y tế trên 50.000 cư dân.

Bà Nguyễn Thị Cẩm, ấp Phước Bình, xã Thạnh Phước (huyện Bình Đại) nói, từ ngày Nhà nước đầu tư xong kênh nổi dẫn nước ngọt từ sông Ba Lai về đến nhà máy nước Thạnh Phước xử lý bán cho bà con sử dụng ai nấy đều mừng.

Cái lợi lớn nhất khi Nhà nước đầu tư nước sạch là người giàu và người nghèo đều được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh với giá thấp.

Ông Tín cho biết, từ năm 2012-2015, tổng vốn đầu tư cho Chương trình NS-VSMTNT hơn 486 tỷ đồng nhưng vẫn chưa thể đáp ứng kịp nhu cầu nước sạch đạt chuẩn Bộ Y tế cho cư dân nông thôn.

Các công trình cấp nước tập trung đầu tư trong 4 năm qua được triển khai thực hiện đúng kế hoạch, đảm bảo chất lượng. Tất cả các nhà máy nước được đưa vào vận hành khai thác ngay lập tức phát huy hiệu quả, hiệu suất khai thác trên 85%.

Song song đó, Trung tâm Nước sạch và VSMTNT sử dụng nguồn thu khấu hao của đơn vị hơn 16,8 tỷ đồng để đầu tư mở rộng mạng lưới cấp nước, duy tu bảo dưỡng các máy bơm, nâng công suất máy bơm, nâng công suất cụm xử lý nước…

Nhờ đó đã phát huy hiệu quả của công trình cấp nước hoạt động tương đối ổn định và bền vững, nhưng chưa kịp đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân nông thôn.

Việc triển khai thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là về nguồn vốn đầu tư cho nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn còn rất thấp so với nhu cầu và mục tiêu đề ra.

Các nhà đầu tư về cấp nước sạch chỉ xem xét và thực hiện ở những vùng thuận lợi như khu tập trung dân cư đông đúc ở các thị trấn, thị tứ nhằm sớm thu hồi vốn, chưa quan tâm đến những vùng nông thôn thật sự khó khăn.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
THANH PHONG
Bình luận Gửi phản hồi