Đường dây nóng : 091.352.8198

Nâng cao hiệu quả hoạt động Công ty Nông, lâm nghiệp

Toàn văn bài viết của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh về việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động Công ty nông, lâm nghiệp.

Tin bài khác

Kể từ khi thành lập đến bắt đầu đổi mới, các nông lâm trường quốc doanh đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp; là nòng cốt phát triển một số ngành hàng nông, lâm sản quan trọng, hình thành vùng nguyên liệu hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ, cung cấp dịch vụ kỹ thuật, vật tư nông nghiệp;  xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn; hình thành các điểm văn hóa, trung tâm kinh tế - xã hội, thị trấn, thị tứ góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng có nhiều khó khăn.

Từ đầu những năm 90, các nông, lâm trường quốc doanh đã thực hiện đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nhưng nông, lâm trường quốc doanh thực sự được sắp xếp đổi mới và phát triển sau khi có Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII (năm 2001) về sắp xếp đổi  mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước; trực tiếp là Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh.

Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, các cấp từ Trung ương đến địa phương, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các nông, lâm trường quốc doanh đã nghiêm túc quán triệt triển khai thực hiện và đạt được những kết quả  chủ yếu là:  

1. Hầu hết các nông, lâm trường quốc doanh đã rà soát lại chức năng nhiệm vụ, tách chức năng xã hội và nhiệm vụ công ích với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Thực hiện một bước việc sắp xếp lại các nông lâm trường theo hướng: nông, lâm trường quốc doanh có đủ điều kiện thì tiếp tục duy trì, củng cố phát triển, chuyển thành công ty nông, lâm nghiệp và nay là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn Nhà nước; các lâm trường quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được chuyển đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ; một số nông, lâm trường có cơ sở chế biến thực hiện thí điểm cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến; giải thể một số nông, lâm trường trường thua lỗ kéo dài không có khả năng khắc phục hoặc khoán trắng nguồn thu chủ yếu là cho thuê đất. Đồng thời thực hiện thí điểm thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên ở một số nông, lâm trường.

Đến nay, cả nước còn 289 công ty nông, lâm nghiệp, trong đó: 104 công ty nông nghiệp, 148 công ty lâm nghiệp và 35 công ty cổ phần, thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có 250 công ty nông lâm nghiệp chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên 100% vốn nhà nước; chuyển đổi và thành lập mới 91 ban quản lý rừng phòng hộ từ lâm trường quốc doanh quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; thành lập 2 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên; giải thể  36 nông, lâm trường.

2. Các công ty nông, lâm nghiệp đã bước đầu rà soát đất đai, đánh giá hiện trạng sử dụng đất; nhiều công ty đã lập quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quy hoạch 3 loại rừng; xác định rõ diện tích cần giữ lại để quản lý, sử dụng, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất; diện tích không có nhu cầu sử dụng, sử dụng hiệu quả thấp thì bàn giao cho địa phương để giải quyết cho đồng bào không có đất, thiếu đất. Đất đai công ty giữ lại đã quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả hơn và thực hiện các hình thức khoán có kết quả. Đã bàn giao về cho địa phương quản lý hơn 500 ngàn ha. Diện tích đất được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất đạt khoảng 45% số diện tích. Các công ty phối hợp với chính quyền địa phuơng từng bước giải quyết tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, sai đối tượng, sai quy định về khoán và quy định của pháp luật về đất đai.

3. Các công ty nông, lâm nghiệp đã tiến hành rà soát, làm rõ tài sản, tình hình tài chính, các khoản phải thu, phải trả; chuyển giao các công trình kinh tế - xã hội không phục vụ trực tiếp sản xuất về cho địa phương quản lý. Giải quyết lao động dôi dư, tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động và dân trong vùng. Tài sản, vốn của các công ty đã tăng hơn so với trước khi sắp xếp.

Hiện tại, bình quân 1 công ty nông nghiệp có tổng giá trị tài sản 331 tỷ đồng (chưa tính hết giá trị vườn cây), vốn chủ sở hữu 164 tỷ đồng, vốn điều lệ 71 tỷ đồng; bình quân 1 công ty lâm nghiệp có tổng giá trị tài sản: 27,1 tỷ  đồng, vốn chủ sở hữu 11,7 tỷ đồng, vốn điều lệ 9,6 tỷ đồng. Thu nhập bình quân của người lao động được nâng cao và của người dân được cải thiện. Nhiều công ty thu nhập của người lao động tăng khoảng 2 lần so với trước khi sắp xếp. Đời sống của một bộ phận dân cư trong vùng có các công ty nông lâm nghiệp cũng được cải thiện. nâng cao do tham gia nhận giao khoán đất của công ty, cung ứng nguyên liệu sản xuất cho công ty.

4. Một số công ty nông, lâm nghiệp sau khi sắp xếp đã tổ chức lại sản xuất gắn với quy hoạch kinh tế xã hội và sử dụng đất của địa phương, tạo thành mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp liên kết giữa vùng nguyên liệu với sản xuất, chế biến, thị trường và tiêu thụ, mở rộng dịch vụ đầu vào đầu ra hỗ trợ kỹ thuật cho nhân dân trong vùng, hình thành vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn, góp phần và tạo điều kiện cho người dân có thêm việc làm, nâng cao thu nhập, là một trong các giải pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn. Có thể khẳng định đây là mô hình, phương thức sản xuất thành công, hiệu quả, tạo điều kiện cho sản xuất của người dân và doanh nghiệp bền vững, thu nhập ổn định và từng bước nâng cao.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên vẫn còn tồn tại khó khăn là:

(1) Đến nay, tuy đã hoàn thành việc sắp xếp lại theo đề  án được phê duyệt, nhưng nhiều công ty lâm nghiệp khó tách bạch giữa nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và công ích vì vừa có rừng phòng hộ, đặc dụng, vừa có rừng trồng, rừng sản xuất và trong công ty có ban quản lý rừng phòng hộ; nhiều công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất lúng túng về phương hướng sản xuất kinh doanh, rất khó khăn chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh theo Luật doanh nghiệp. Một số mô hình mới hoặc thí điểm cổ phần hóa, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên, trong công ty có Ban quản lý rừng nhưng chậm được tổng kết, điều chỉnh bổ sung kịp thời.

(2) Phần lớn đất đai chưa được xác định ranh giới, cắm mốc; diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuê đất thấp (còn hơn 50% chưa được cấp giấy chứng nhận, gần 60% chưa thuê đất). Diện tích đất giao về địa phương chỉ đạt hơn 50 % so với dự kiến; diện tích đất chưa đưa vào sử dụng hoặc hoang hóa giảm chưa nhiều vẫn còn hơn 5%. Một số tồn tại trong quản lý sử dụng đất chậm được giải quyết, xử lý chưa kiên quyết.

Nhiều công ty buông lỏng quản lý khoán dẫn đến “khoán trắng” “phát canh thu tô”, chưa quản lý được hợp đồng giao khoán, chuyển nhượng hợp đồng giao khoán không đúng quy định, mua bán trái phép. Việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp một số nơi còn lỏng lẻo, có biểu hiện vi phạm pháp luật, xử lý chậm, chưa kiên quyết, nên diễn biến phức tạp, nhất là tại một số công ty ven đô thị.

(3) Một số công ty vẫn chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhất là các công ty quản lý chủ yếu rừng tự nhiên là rừng sản xuất. Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng đất nhiều đơn vị vẫn còn thấp. Nếu không tính Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, thì doanh thu bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha của các công ty nông, lâm nghiệp chỉ bằng 30% - 50% doanh thu bình quân trên 1 ha của cả nước. Năm 2011 vẫn còn 14,6% công ty nông nghiệp và 22,2 % công ty lâm nghiệp thua lỗ.

(4) Tài sản, vốn của công ty nông, lâm nghiệp vẫn còn nhỏ bé, tài chính còn nhiều khó khăn. Nhiều công ty vốn chủ sở hữu nhà nước chưa đạt tiêu chí quy định của Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. Nhiều công ty gặp nhiều khó khăn về tài chính, vay vốn ngân hàng còn nhiều hạn chế.

(5) Thu nhập của người lao động còn thấp, đời sống của người lao động và dân trong vùng vẫn còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân của người lao động  ở một số công ty nông nghiệp và nhiều công ty lâm nghiệp ở miền núi phía Bắc, bắc Trung bộ thu nhập còn rất thấp; nhất là ở vùng Tây Nguyên nhiều công ty lâm nghiệp không có nguồn thu, nên thu nhập từ lâm trường còn thấp hơn, thậm chí một số công ty lâm nghiệp nợ lương, bảo hiểm xã hội của công nhân. 

Những tồn tại, khó khăn nêu trên có nguyên nhân khách quan do quá trình xây dựng và phát triển để lại; nhiều nông, lâm trường hoạt động trên địa bàn khó khăn, vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hạ tầng kinh tế - xã hội thấp; đối tượng sản xuất là cây trồng, vật nuôi; sản xuất phụ thuộc nhiều vào địa hình và khí hậu, thời tiết.

Nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:

 (i) Nhận thức của nhiều cấp, ngành về mục đích, yêu cầu và nội dung của Nghị quyết chưa đầy đủ, chưa đúng vị trí, vai trò của nông, lâm trường, còn tư tưởng coi nhẹ, tránh né. Một bộ phận lãnh đạo nông, lâm trường muốn duy trì cơ chế cũ, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không chủ động tháo gỡ khó khăn, đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất kinh doanh.

(ii) Một số cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, chưa phù hợp thực tế, chưa tạo được chuyển biến căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp.

(iii) Năng lực trình độ cán bộ quản lý trong một số công ty chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu sự phối kết hợp với địa phương để giải quyết, tháo gỡ khó khăn đối với các trường hợp tranh chấp, lấn chiếm đất đai, chuyển giao đất, rừng về địa phương quản lý.

(iiii) Tổ chức, chỉ đạo triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện Nghị quyết của một số Bộ, ngành và địa phương chưa quyết liệt, phối hợp thiếu đồng bộ còn hiện tượng khoán trắng cho cơ quan chuyên môn. Quản lý nhà nước về đất đai có nơi buông lỏng, xử lý các trường hợp vi phạm chậm và thiếu kiên quyết.

Để khắc phục tồn tại khó khăn nêu trên, các công ty nông, lâm nghiệp trong thời gian tới cần phải có bước đột phá tạo sự thay đổi trong sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty, trước hết về quản lý sử dụng đất, vốn tài sản tại doanh nghiệp.

Việc sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động công ty nông, lâm nghiệp thời gian tới phải quán triệt tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị về  tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả công ty nông, lâm nghiệp với nội dung chủ yếu là:

Về quan điểm chỉ đạo:

(i) Sắp xếp, đổi mới công ty nông, lâm nghiệp phải phù hợp với chủ trương, định hướng tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và nền kinh tế; góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp xây dụng và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhất là chương trình xây dựng nông thôn mới.

(ii) Quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, gắn quyền lợi với trách nhiệm trong quản lý, sử dụng đất đai, bảo vệ, phát triển rừng; tiếp tục duy trì và hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hóa tập trung, thâm canh gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, phù hợp với quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn. Giải quyết cơ bản các tồn tại, vướng mắc về đất đai, bảo đảm ổn định xã hội và thực hiện tốt việc đổi mới quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật về đất đai, về bảo vệ  và phát triển rừng.

(iii) Tạo sự chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; sản xuất nông, lâm sản phải gắn với công nghiệp chế biến và thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa. Chuyển các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh sang công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của pháp luật. Nhà nước có chính sách phù hợp để các công ty lâm nghiệp hoạt động công ích hoàn thành nhiệm vụ được giao.

(iiii) Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa quốc gia, doanh nghiệp và người dân; phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ và văn hóa đối với nhân dân trong vùng, đóng góp xứng đáng vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh quốc phòng tại các địa phương và sự nghiệp phát triển chung của đất nước.

(iiiii) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc sắp xếp, đổi mới và phát triển các công ty nông, lâm nghiệp; đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong các công ty nông, lâm nghiệp.

Mời quý độc giả theo dõi phần tiếp theo tại đây.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh
Bình luận Gửi phản hồi