Nông dân huyện Hòn Đất (Kiên Giang) đang vào vụ thu hoạch lúa đông xuân. Đi đâu cũng thấy lúa - lúa vàng đồng, lúa đầy sân, lúa tràn cả ra đường. Thế nhưng điều mà nông dân quan tâm lúc này lại không phải là giá lúa đang xuống thấp, khó tiêu thụ mà là mức hạn điền và thời hạn giao đất khi mà cái mốc 2013 đang rất cận kề.
>> Vị Giám đốc Sở mong sở hữu đất
>> Kẻ chán, người thèm
>> Giấy viết tay đánh đu với chính sách
10 ha mới bõ đầu tư
“Với giá cả bấp bênh như hiện nay thì một nông dân làm 3 ha đất cũng chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Mỗi năm thu cả ngàn giạ lúa nghe có vẻ nhiều nhưng chi phí sản xuất đã ngốn hết 1/3. Còn lại ba trăm giạ lúa thì nào là lúa giống, chi phí đầu tư cho vụ tới, ăn trong 6 tháng… không khéo là thiếu trước hụt sau đấy chứ dư giả gì”, ông Út Phải (Lê Văn Phải) ở xã Mỹ Hiệp Sơn (Hòn Đất, Kiên Giang) nói về mức hạn điền hiện nay.

Ít đất, nông dân không thể phát triển sản xuất hàng hóa
Lúc bấy giờ việc khai phá chủ yếu bằng sức người, sức trâu nên rất chậm, trong khi đồng ruộng toàn là gốc tràm, cỏ dại cao lút đầu người. Không ít hộ do không chịu được cuộc sống khắc nghiệt đành phải bỏ của chạy lấy người, tìm nơi khác lập nghiệp. Thấy đất ở đây rộng mênh mông mà bỏ đi nơi khác thì tiếc quá, ông Út quyết định gom hết vốn liếng dành dụm được mua chiếc máy cày cũ để làm. Có máy, công việc khai phá trở nên dễ dàng hơn. Khi những mảnh ruộng đã thuần, ông lại tìm người để đổi, gom lại một chỗ để canh tác cho thuận tiện. Cứ thế, ruộng đất ngày một nhiều lên. Rồi ruộng làm sinh lời, có tiền ông lại gom góp mua đất.
|
Theo ông Út Phải, nông dân có thể làm giàu từ nông nghiệp được nhưng với điều kiện là phải có nhiều đất, chứ ít thì đừng mơ làm giàu. Nhiều đất nhưng phải là đất của mình, được nhà nước giao vĩnh viễn thì mới yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất. Chứ như tôi đây thì cũng lo ngay ngáy, chả biết sau năm 2013 đất còn của mình nữa không để mà làm.
|
Nhấp ly trà nóng, Út Phải khề khà: “Mang tiếng là nhiều đất nhưng có phải của tôi đâu, người khác đứng tên đấy chứ. Do “vướng” phải hạn điền nên con cái trong gia đình, cứ đứa nào lớn là tui lại chia đất, tách hộ cho ra riêng. Khi hết người trong nhà thì phải nhờ đến bà con họ hàng đứng tên giùm”.
Tương tự hộ ông Năm Huề (Nguyễn Văn Huề), ở xã Nam Thái Sơn cũng được nhiều người biết đến với ruộng đất cò bay thẳng cánh. Tìm gặp ông khi vụ lúa ĐX đang thu hoạch rộ, Năm Huề đang tất bật trên đồng ruộng, vừa điều động máy cắt, vừa coi cân bán lúa cho thương lái. Tranh thủ lúc ông đang ngồi xếp lại mấy cái bao mà thương lái cân lúa vừa thảy ra, tôi hỏi: “Chú Năm hiện giờ có bao nhiêu đất?”. Ông Năm cười cười: “Hai vợ chồng tui chỉ có 6 ha đất thôi, còn lại đã chia hết cho con cái rồi”. Rồi ông hỏi: “Anh là nhà báo, anh có biết hết năm 2013 Nhà nước có chia lại đất không nhỉ? Cầm cái bằng khoán thấy ghi hạn giao đất đến năm 2013, nông dân chúng tôi cứ lo ngay ngáy. Giá mà nhà nước giao 50, 70 năm hoặc giao vĩnh viễn để nông dân chúng tôi yên tâm làm ăn”.
Bây giờ làm ruộng ít nhất cũng phải có lấy 10 ha thì mới bõ công đầu tư, mua sắm máy móc. Chứ ít quá, rồi cái gì cũng phải mướn thì xong mùa là hết. May lắm thì cũng chỉ còn ít lúa ăn tới vụ sau là cùng.

Chỉ có đất rộng thì nông dân mới mạnh dạn đầu tư cơ giới hóa (Trong ảnh, ông Ba Hạo đang lái máy trên trang trai khoai lang của mình)
Nỗi lo công cốc
Trang trại khoai lang Ba Hạo (ở Mỹ Hiệp Sơn, Hòn Đất, Kiên Giang) là một trong những điển hình về sản xuất hàng hóa lớn ở ĐBSCL. Để có được diện tích sản xuất lớn, ông Đỗ Quý Hạo, chủ trang trại phải bỏ ra 2 tỷ đồng mỗi năm để thuê đất của rất nhiều người.
Ba Hạo cho biết: “Để thuê được diện tích 50 ha ở cùng một chỗ, tui phải bỏ công sức ra thuyết phục 17 hộ nông dân cho mướn lại. Thuyết phục họ cho mướn đã khó nhưng trả giá như thế nào lại càng khó hơn. Bởi ruộng mỗi người mỗi khác. Chín người mười ý, đây lại tới mười mấy người. Chỉ cần một người bàn ra hoặc không cho mướn nữa là rất khó. Cuối cùng tui đành phải chấp nhận giá 800 kg lúa/công và trả ngay vào đầu vụ”.
Việc làm này của Ba Hạo bị mọi người cho là “phá giá” vì cao gần gấp đôi so với mặt bằng chung. Nhiều người còn ái ngại cho Ba Hạo, không khéo là làm không đủ đóng cho chủ đất chứ nói gì đến lời. Thế nhưng Ba Hạo lại suy nghĩ khác: “Có được diện tích rộng thì mới làm cơ giới hóa được. Làm cơ giới không chỉ nhanh mà còn giảm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, sản phẩm là ra nhiều, đồng đều, người mua chỉ cần lấy mẫu đi kiểm tra là có thể yên tâm mua vài trăm tấn. Chứ làm manh mún vài ha thì khó mà kiểm tra được”.
Theo Ba Hạo, mức hạn điền hiện nay là quá ít. Hơn nữa cũng cần phân ra từng nhóm cây trồng vật nuôi cụ thể để có thời hạn giao đất cho hợp lý. Vì mỗi loại cây trồng, vật nuôi có quy trình canh tác khác nhau, cần thời gian đầu tư khác nhau. Chẳng hạn đất trồng màu là từ 25-30 ha, đất lúa là 50 ha. Chứ hạn điền chỉ 3 ha như hiện nay thì không thể sản xuất hàng hóa lớn được.
Cũng cùng quan điểm này, ông Út Phải đề nghị Nhà nước nên tính toán để nới rộng hoặc bỏ hẳn hạn điền và thời hạn giao đất. Ông Út Phải giải thích: “Để có được ruộng đất trù phú như ngày nay, nông dân xã Nam Thái Sơn phải mất mấy chục năm khai hoang, thau chua rửa phèn. Có thể do hồi đó làm bằng sức người, sức trâu nên tốn nhiều thời gian, công sức. Nhưng có cơ giới hóa như bây giờ cũng phải mất 10-15 năm. Vì vậy, nếu chỉ giao 20 thì nông dân không thể yên tâm sản xuất. Mình mất công khai phá, đến khi đất màu mỡ lỡ Nhà nước lấy lại giao cho người khác thì thành công cốc à”.
Rồi ông Út Phải so sánh: “Tôi được biết Nhà nước giao đất cho các DN trồng rừng, nuôi trồng thủy sản thời hạn 40-50 năm, trong khi đất lúa lại chỉ có 20 năm là quá ít và không công bằng. Vậy thì tại sao không nghiên cứu sửa Luật Đất đai để đất lúa cũng được giao 50 năm hoặc bỏ hẳn thời hạn giao đất, giao vĩnh viễn cho nông dân yên tâm sản xuất?”.
|
Dù là đất mướn nhưng nghĩ đến thời hạn giao đất năm 2013 mà Ba Hạo lo ngay ngáy: “Để có được trang trại vài chục ha trồng khoai lang, ngoài tiền trả mỗi năm cho các chủ đất là 2 tỷ đồng, tui còn phải đầu tư làm đê bao, nhà xưởng, mua máy móc mất hơn 4 tỷ đồng nữa. Lỡ Nhà nước chia lại đất, người khác không cho thuê thì sạt nghiệp”.
|