Thông thường người ta vẫn nhầm bạch tạng với bạch biến mà cho rằng chỉ khác tên gọi mà thôi; tuy giữa chúng cùng có chung dấu hiệu làm giảm sắc tố da, nhưng thực ra bạch tạng và bạch biến về nguyên nhân bệnh sinh là hoàn toàn khác. Vì vậy có người hỏi về sự khác biệt giữa chứng bạch tạng và bạch biến và khả năng trị liệu như thế nào, dưới đây xin trình bày cụ thể...
Bạch tạng (albinism) là sự biểu hiện của da bị giảm hay mất hẳn sắc tố (melanocytes), làm cho tóc bạc. Người bệnh sợ ánh sáng, nhãn cầu bị giật. Khi khám đáy mắt thì thấy đáy mắt và mống mắt trong suốt. Nhưng thị lực bị giảm và không chịu được ánh sáng mặt trời. Da nhạy cảm với tia cực tím nên dễ bị ung thư da ở vùng tiếp xúc với ánh sáng. Do vậy người bệnh cần đeo kính mát và che ánh sáng mặt trời. Người ta đã xác định rằng là bệnh giảm sắc tố di truyền, tính lặn với biểu hiện giảm sắc tố đồng đều ở da, tóc và võng mạc. Bạch tạng hiếm khi chỉ biểu hiện ở da, nhưng có thể chỉ biểu hiện ở mắt một cách đơn thuần. Cơ chế bệnh sinh là có liên quan đến vai trò của men tyrosinase trong quá trình chuyển hóa tyrosin thành DOPA.
Còn chứng bạch biến (vitiligo) là bệnh giảm sắc tố da (melanocytes) khu trú, tự phát với biểu hiện là các dát trắng, bệnh chiếm từ 1 – 2% dân số. Nguyên nhân bệnh sinh còn chưa rõ, có giả thuyết cho rằng bệnh liên quan tới quá trình tự miễn, làm phá hủy các tế bào sinh sắc tố (tế bào sắc tố melamine). Một giả thuyết khác lại cho rằng bệnh có liên quan tới cơ chế tự phá hủy enzyme và rối loạn hoạt động thần kinh. Song yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng vì chiếm tới 30% người mắc bạch biến có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh.
Do đó là bệnh mang tính gia đình và hầu hết người bệnh đều khỏe, song cũng thấy bệnh xuất hiện sau những căng thẳng tinh thần, xúc động mạnh, chấn thương thể chất như sau phẫu thuật, tai nạn, đang có thai, mất việc làm hay mất người thân… hay các tác nhân hóa học như phenol, catfechin, thiol cũng phát sinh bệnh; đồng thời có thể kèm theo bệnh kết hợp như bệnh tuyến thượng thận, rối loạn tuyến giáp, rối loạn chức năng gan, tiểu đường, thiếu máu, thiếu máu ác tính, thiểu sản tủy, viêm màng não vô khuẩn, sợ ánh sáng, khiếm thính, rụng tóc... Trong bạch biến tỷ lệ viêm mống mắt khoảng 10%. Tuy nhiên như trên đã nói, cơ chế bệnh sinh còn chưa rõ. Người ta chỉ thấy trên tiêu bản mô của người mắc chứng bạch biến như ở chỗ da bị bạch biến không có tế bào sắc tố do vậy không nên coi chứng bạch biến chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà cần quan tâm đến những bệnh chứng kèm theo.
Nhìn chung hiện nay kể cả bạch tạng và bạch biến đều nằm trong tình trạng khó chữa bởi thực sự chưa biết rõ nguyên nhân bệnh sinh nên hai chứng này đối với cả Tây y lẫn Đông y vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong hai chứng này thì bạch biến còn có khả năng trị liệu đôi chút. Bởi vậy trong việc trị liệu xin chỉ giới thiệu sơ qua về cách trị của chứng bạch biến (vì để hoàn chỉnh hơn cần có bài riêng về lĩnh vực này) để cùng tham khảo.
Cách trị liệu bạch biến bằng Tây y: Là bệnh có nhiều khó khăn trong trị liệu, nên chủ yếu Tây y cũng chỉ dựa theo cơ chế và triệu chứng khác nhau của từng thể loại như mức độ bệnh, vị trí tổn thương, tuổi đời, tuổi bệnh… cụ thể là:
Dùng các thuốc bôi dạng kem, mỡ corticoid có hoạt tính khác nhau từ nhẹ đến vừa, mạnh và rất mạnh. Các thuốc có cảm ứng ánh sang như meladinin, pasoralen… gần đây có dùng daivonex, daivibet hay thuốc bôi cho trẻ em tacrolimus (protopic) 0,1 – 0,03%.
Quang hóa trị tại chỗ bôi bằng dung dịch psolaren, daivonex… Hay quang hóa trị toàn thân bằng PUVA: psoralene (5MOP, 8MOP) uống trước từ 1 giờ 30 đến 2 giờ. Sau đó chiếu UVA hay UVB.
Dùng thuốc ức chế miễn dịch liều thấp như corticoid… Thuốc làm mất sắc tố như Hydroquinon… Ngoại khoa có thể ghép da mỏng hoặc cấy tế bào sắc tố…
Cách trị liệu theo Đông y: Có nhiều thể bệnh khác nhau xin nêu vài phương tiêu biểu:
Chọn lấy một phương sử dụng thấy thích hợp nhất, tiện lợi, an toàn.
- Dùng hạnh nhân có vỏ nhai nhỏ sớm tối lấy xoa vào nơi bị bệnh.
- Dùng Nhị tử thang: Gồm Sa uyển tử 15g, Nữ trinh tử 15g, Toàn đương quy 15g, Hà thủ ô 15g, Bạch tật lê 15g, Phúc bồn tử 10g, Câu kỷ tử 10g, Sinh thục địa 10g, Xuyên khung 10g, Xích bạch thược 10g, Hắc chi ma 10 – 20g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
- Dùng nhị bổ dịch: Gồm Bổ cốt chi 200g, Cốt toái bổ 100g, Thạch lựu 50g, Hoa tiêu 50g, Vừng đen 50g. Cho tất cả thuốc vào bình, đổ 500ml cồn 75o, ngâm trong 7 ngày lấy cồn thoa vào chỗ bị bệnh, ngày 2 – 3 lần. Sau khi thoa phơi nắng ở chỗ bệnh từ 10 – 20 phút, cần liền trong 30 ngày và cũng là 1 liệu trình.
- Dùng Hồng hoa đương quy ẩm: Hồng hoa 10g, Đương quy 10g. Sắc ngày 1 thang, chia 2 lần.
- Dùng Bạch điến phong ngoại dụng phương: Bạch chỉ 6g, Bạch phụ tử 6g, Mật đà tăng 10g, Hùng hoàng 3,5g. Nghiền bột mịn cả 2 vị, sau lấy dưa chuột cắt ngang bằng, lấy dưa này chấm vào bột xát mạnh vào nơi bị bệnh, ngày 2 lần.