Đường dây nóng : 0913.378.918
Chăn nuôi trang trại lợn đặc sản
Hai giống lợn bản địa chủ yếu được đưa vào nghiên cứu là lợn lửng Phú Thọ và lợn đen 14 vú Mường Lay (Điện Biên).
Tin bài khác

Nuôi lợn đen Mường Khương ở Sa Pa (Lào Cai)

Trong khuôn khổ “Chương trình nghiên cứu nông nghiệp hướng tới khách hàng” thuộc Dự án KHCN Nông nghiệp vốn vay ADB, Viện Chăn nuôi phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT 2 tỉnh Phú Thọ và Điện Biên tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu phát triển chăn nuôi lợn đặc sản (lợn lửng và lợn 14 vú) với qui mô trang trại đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh tế”. Hai giống lợn bản địa chủ yếu được đưa vào nghiên cứu là lợn lửng Phú Thọ và lợn đen 14 vú Mường Lay (Điện Biên).

TS. Trịnh Phú Ngọc, Bộ môn động vật quí hiếm và đa dạng sinh học (Viện Chăn nuôi), Chủ nhiệm đề tài cho biết: Nguồn gen vật nuôi của nước ta được xếp hạng cao trong đa dạng sinh học và khá phong phú do sự khác nhau về môi trường tự nhiên giữa các vùng miền, hệ thống canh tác, nền văn hóa giữa các địa phương, dân tộc.

Theo thống kê, Việt Nam có đến 70 giống vật nuôi bản địa, trong đó có khoảng 30 giống đang được sử dụng rộng rãi trong SXNN như trâu, bò vàng, ngựa ta, lợn… Riêng các giống lợn bản địa đã có tới 20 loại, như lợn ỉ, Móng Cái, Thuộc Nhiêu, lợn hung (Hà Giang), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợn Mường Khương (Lào Cai), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn lửng Phú Thọ, lợn đen 14 vú Mường Lay (Điện Biên), lợn nâu (Sìn Hồ - Lai Châu) v.v…

Các giống lợn bản địa chủ yếu được bà con các dân tộc miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến Bình Phước lưu giữ và chăn nuôi ở qui mô nhỏ với phương thức thả rông. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều người đang quay lại chăn nuôi các giống lợn bản địa vì các ưu điểm: thịt ngon, ít bệnh tật, giá trị kinh tế lớn. Tuy nhiên hệ thống chăn nuôi các loại lợn bản địa hiện còn nhiều nhược điểm: chủ yếu nuôi thả rông gây khó khăn cho việc ghép đôi giao phối, năng suất thịt thấp, qui mô nhỏ, sản lượng thấp khó trở thành SX hàng hóa lớn.

Đề tài hướng tới khắc phục những yếu kém đó bằng cách xây dựng hệ thống chăn nuôi kết hợp các kỹ thuật hiện đại như chọn tạo giống thuần, qui trình chăn nuôi lợn sinh sản, điều tiết ghép đôi giao phối giống tránh cận huyết để đẻ nhiều, con khỏe, năng suất cao. Đề tài cũng hướng tới việc đưa thêm các nguồn thức ăn thô xanh, sử dụng các chế phẩm sinh học hữu ích EM, vệ sinh môi trường bằng hầm biogas. Giống lợn lửng của một số thôn bản của các xã vùng sâu, vùng xa như: Xuân Sơn, Vĩnh Tiền, Yên Sơn, Đông Cửu (Phú Thọ) toàn thân đen tuyền, trán dô, mặt phẳng, mõm dài, tai chuột, chân nhỏ, tầm vóc nhỏ (một năm tuổi chỉ đạt 10-15kg, nhiều nơi còn gọi là lợn “cắp nách”), thịt ngon và thơm như thịt lợn rừng, giá bán cao gấp 3-4 lần so với lợn công nghiệp, hiện đang được Sở NN và PTNT tỉnh Phú Thọ đưa vào danh mục bảo tồn và phát triển.

Hầu hết các giống lợn nội chỉ có 8-10 vú nên khả năng sinh và nuôi con hạn chế trong khi giống lợn đen Mường Lay (Điện Biên) có 14 vú trở lên nên rất đông con, mỗi lứa đẻ trung bình 12-15 con, thậm chí tới 20 con/lứa. Đây là giống lợn đen phàm ăn, quen chịu đựng sương gió, thời tiết khắc nghiệt, ít bệnh, phát triển mạnh. Nuôi lợn đen Mường Lay ít tốn thức ăn nhưng chúng vẫn lớn đều, thịt săn chắc, thơm và ngọt, được coi là thực phẩm sạch nên được nhiều người ưa chuộng, bán với giá từ 80.000-100.000 đồng/kg, cao gấp 2-3 lần lợn thường, hiệu quả kinh tế lớn nếu đầu tư nuôi tập trung thành hàng hóa. Lợn đen 14 vú Mường Lay đã được Sở NN-PTNT Điện Biên đưa vào danh sách bảo tồn và phát triển từ năm 2008.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Nguyên Khê
Bình luận Gửi phản hồi