Thứ bảy, 23/09/2017 02:42 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

NPK-S Lâm Thao tăng năng suất đậu tương đông

27/08/2014, 08:10 (GMT+7)

Đậu tương có thể được trồng trên nhiều loại đất có thành phần cơ giới khác nhau. Cây có thể chịu được pH = 4 - 9, thích hợp nhất pH = 6 - 7.

NPK-S Lâm Thao tăng năng suất đậu tương đông
Cây đậu tương có lợi thế trong vụ đông miền Bắc

1. Đặc điểm sinh lý

Cây đậu tương (còn gọi là cây đỗ tương, đậu nành), tên khoa học là Glycine max.  Ở nước ta, đậu tương được chia thành 3 nhóm: Nhóm chín rất sớm có thời gian sinh trưởng 60 - 80 ngày; nhóm chín sớm thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày; nhóm chín trung bình thời gian sinh trưởng hơn 90 ngày.

Cây đậu tương trải qua 5 thời kỳ sinh trưởng và phát triển:

- Thời kỳ nảy mầm và mọc: Tính từ khi hạt hút nước trương lên đến khi xòe lá tử diệp.

- Thời kỳ cây con: Tính từ mọc đến nở hoa đầu tiên, là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng.

- Thời kỳ ra hoa: Ra hoa sớm hay muộn tùy thuộc vào giống, thời vụ gieo trồng, độ dài ngày.

- Thời kỳ hình thành quả, hạt: Sau hoa nở 5 - 7 ngày, quả bắt đầu được hình thành. Thời kỳ nở hoa và thời kỳ hình thành quả hạt không có ranh giới rõ ràng, đồng thời có cả nụ, hoa, quả trên cùng một cây, trên cùng một đốt hoa.

- Thời kỳ chín: Khi hạt hình thành, độ ẩm hạt 90%; trong quá trình tích lũy chất khô và tăng kích thước hạt, lượng nước còn 60 - 70%; khi hoàn thành tích lũy chất khô lượng nước còn 30%; trước khi chín 1 - 2 tuần, độ ẩm hạt còn 15 - 20%; khi quả đậu tương chín khô, lá rụng hết, lượng nước trong hạt còn 14 - 15%.

2. Thời vụ, mật độ trồng

2.1. Thời vụ

Miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ: Vụ đông trồng 20/9 - 15/10, thu hoạch tháng 12, sử dụng các giống chín sớm AK03, AK05, VX92, AK04...

2.2. Mật độ

Vụ đông: Giống chín sớm mật độ 50 - 60 cây/m2; giống chín trung bình mật độ 45 - 50 cây/m2.

2.3. Đất trồng

Đậu tương có thể được trồng trên nhiều loại đất có thành phần cơ giới khác nhau như đất sét, sét pha thịt, đất thịt, thịt pha cát, đất cát; có thể trồng trên các địa hình khác nhau như ở các vùng đất cao, hạn (trồng lúa thì cao, trồng ngô thì úng, năng suất thấp), vùng đồi thấp, ít dốc, có mưa đều quanh năm, đất có địa hình thấp như đất chuyên trồng 2 vụ lúa; có thể trồng trên nhiều loại đất như phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất cát thô ven biển, đất bazan bị thoái hoá, đất phèn.

Đậu tương có thể chịu được pH = 4 - 9, thích hợp nhất pH = 6 - 7.

2.4. Đậu tương đông trong cơ cấu cây trồng

+ Vùng trung du đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ: Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông (vùng đất bạc màu); Mạ xuân - đậu tương xuân - mạ mùa - đậu tương hè thu.

+ Các tỉnh Nam Trung bộ: Lúa xuân - lúa hè - đậu tương thu đông.

+ Vùng Đông Nam bộ, Tây Nguyên: Đậu tương vụ 1 - đậu tương vụ 2 (2 vụ trồng kề nhau trong vụ mưa); ngô vụ 1 - đậu tương vụ 2 (2 vụ trồng kề nhau trong vụ mưa).

+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long: Lúa hè thu - lúa trung mùa - đậu tương xuân hè (vùng ngập nước rút chậm); lúa mùa nổi - đậu tương xuân hè (vùng ngập nước sâu); đậu tương hè thu - đậu tương thu đông (vùng mặn); lúa mùa - đậu tương đông xuân (vùng mặn).

3. Bón NPK-S Lâm Thao

* Tính theo một sào Bắc Bộ là 360 m2

+ Bón lót: Phân chuồng 200 - 300 kg

NPK-S 5.10.10-7: 10-15 kg

+ Bón thúc: Khi cây có 3 - 5 lá

NPK-S 5.10.10-7: 10 - 15 kg

* Tính cho 1 ha:

+ Bón lót: Phân chuồng 5.500 - 7.000 kg

NPK-S 5.10.10-7: 280 - 400 kg

+ Bón thúc: Khi cây có 3 - 5 lá

NPK-S 5.10.10-7: 280 - 410 kg

Cty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao chúc bà con nông dân đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với cây đậu tương đông

TS BÙI HUY HIỀN

Đang được quan tâm

Gửi bình luận