Đường dây nóng : 091.352.8198

“Nữ hoàng quả khô” về Thủ đô

Ngày 24/1, lần đầu tiên những sản phẩm chế biến từ quả mắc ca (được mệnh danh là “nữ hoàng quả khô”) được tôn vinh tại một lễ hội lớn mang tên “Festival Macadamia 2015” ở giữa lòng Thủ đô./ Festival mắc ca lần đầu tại Việt Nam

Nữ hoàng quả khô về Thủ đô
Sản phẩm chế biến từ nhân mắc ca mang thương hiệu DELIX của Cty IDT International được trưng bày tại lễ hội Macadamia 2015
Tin bài khác

Nói về chuyện mở rộng diện tích trồng mắc ca, GS Hoàng Hòe, nguyên Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng (Bộ NN-PTNT) lưu ý: “Nông dân “chuộng” cây mắc ca là tín hiệu tốt, nhưng cần phải có cái đầu tỉnh táo”.

Ngày 24/1, lần đầu tiên những sản phẩm chế biến từ quả mắc ca (được mệnh danh là “nữ hoàng quả khô”) được tôn vinh tại một lễ hội lớn mang tên “Festival Macadamia 2015” ở giữa lòng Thủ đô, do Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Viện Nghiên cứu và phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây và Cty CP Thương mại, Đầu tư và Phát triển công nghệ quốc tế (IDT International) phối hợp tổ chức. Sự hiếu kỳ đã thu hút hơn 2.000 người tham dự.

Trong khuôn khổ sự kiện, những người quan tâm đến cây mắc ca cũng được dịp thảo luận sôi nổi tại diễn đàn “Mắc ca Việt Nam – Tiềm năng phát triển và cơ hội”.

Doanh nghiệp phải là nòng cốt

Ông Trần Xuân Cừ, Phó Trưởng ban phụ trách BCĐ Tây Bắc khẳng định: Với tiềm năng khoảng 120.000 ha thích hợp trồng cây mắc ca (chi phí trung bình cho 1 ha là 50 - 75 triệu đồng/ha), sau 4 năm trồng đã cho sản phẩm từ 2,5 - 3 tấn/ha, đạt giá trị khoảng 200 - 250 triệu đồng/ha).

So với cây cao su và các cây lâm, nông nghiệp khác đã và đang triển khai ở vùng Tây Bắc, cây mắc ca có ưu thế vượt trội và lợi ích cao hơn rất nhiều lần. Từ cây mắc ca cũng có thể phát triển thành một ngành kinh tế kết hợp giữa lâm, nông, công nghiệp.

Tuy nhiên, ông Cừ cũng lưu ý: Mắc ca là một sản phẩm cao cấp, do đó khâu chế biến cần phải được đầu tư cẩn thận và bài bản. Ở Việt Nam, đã có DN thành công khi hướng mũi nhọn đầu tư vào cây mắc ca.

Cty IDT là ví dụ điển hình. Họ không chỉ chế biến mà đã đầu tư phát triển thương hiệu mắc ca DELIX chuyên nghiệp và có khả năng cạnh tranh với những sản phẩm cao cấp từ các nước có lịch sử phát triển mắc ca trước nước ta nhiều thập kỷ. Đó cũng là một hướng đi rất đáng để ghi nhận.

Muốn đồng bào trồng cây mắc ca trên vùng Tây Bắc, Tây Nguyên (hai vùng có điều kiện lý tưởng để trồng cây mắc ca) được chia sẻ giá trị gia tăng một cách bền vững, tránh cảnh được mùa, mất giá hoặc thu hoạch xong không biết bán cho ai thì cần phải có những cơ chế mới, liên kết chặt chẽ giữa người trồng với các nhà khoa học, nhà quản lý và DN, trong đó DN phải là nòng cốt.

Theo TS Nguyễn Trí Ngọc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây: "Mắc ca là cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao gấp đôi, gấp ba cây cà phê, cây điều. Tuy nhiên, diện tích trồng mắc ca hiện mới chỉ đạt 2.000 ha. Việt Nam đã quy hoạch 200.000 ha ở Tây Nguyên và 30.000 ha ở Tây Bắc.

Dự kiến đến năm 2025 đạt 200.000 tấn hạt và tạo ra giá trị thương mại hàng tỷ USD sau năm 2025. Thực tế canh tác cho thấy, một cây mắc ca có thể cho tới 70 kg quả, và với giá hiện khoảng 15 USD/kg hạt thì Việt Nam chỉ cần 10 năm để phát triển 100.000 ha, và có thể đạt kim ngạch khoảng 2 tỷ USD/năm. Cũng vì thế người ta gọi mắc ca là cây tỷ đô".

Phân tích về thị trường tiêu thụ sản phẩm mắc ca, PGS.TS Phạm Đức Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây nhận định: "Do mắc ca có thể tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng và giá trị dinh dưỡng cao nên ngày càng có nhiều người sử dụng. Đến năm 2020 thị trường thế giới cần khoảng 220.000 tấn nhân (tương đương 65.000 tấn hạt).

Là người nghiên cứu về cây mắc ca trên thế giới, GS Hoàng Hòe, nhấn mạnh: “Chúng ta phát triển cây mắc ca là đúng và không nên chần chừ nữa” và. Và cần phải có Hiệp hội Phát triển cây mắc ca. Hiệp hội đó phải có quỹ để nghiên cứu như các quốc gia khác. Tôi tin tưởng trong 20 năm nữa, Việt Nam sẽ là một trong những nước phát triển mạnh về cây mắc ca”.

So với nguồn cung đến năm 2020 mới chỉ đáp ứng được khoảng 25 - 30% lượng cầu. Từ đó cho thấy rằng, nhu cầu của sản phẩm mắc ca là rất lớn. Nếu chúng ta quy hoạch hoạch, lựa chọn vùng SX tốt thì hoàn toàn có triển vọng".

Tăng tốc nhanh, “chân phanh” tốt

Theo PGS.TS Phạm Đức Tuấn, con đường phát triển cây mắc ca ở nước ta không chỉ có màu hồng. Nó luôn tiềm ẩn khó khăn và rủi ro. Vì đại đa số nông dân đang rất thiếu thông tin, kiến thức về loại cây mới này, cứ nghe thấy lãi cao là lao vào trồng, chẳng cần biết đó là giống gì? Nguồn gốc xuất xứ ra sao? Trồng mật độ bao nhiêu và chăm sóc thế nào?...

Do thị trường khan hiếm, một số DNSX giống đẩy giá lên rất cao. Họ bán 70.000 - 90.000 đồng/cây giống. Để giảm phụ thuộc vào nước ngoài, ông Tuấn khuyến cáo DN và nông dân nên tự SX giống, mặc dù khó nhưng vẫn có thể làm được bằng cách thuê tư vấn khoa học để làm.

Một vấn đề nữa cũng rất đáng bàn, đó là sau gần 100 năm phát triển, toàn thế giới chỉ trồng được 80.000 ha mắc ca. Vậy 10 năm nữa chúng ta có thể trồng được 100.000 ha hay không? Nếu công nghiệp chế biến không phát triển kịp so với sức SX thì Việt Nam rất dễ rơi vào bẫy của quốc gia cung cấp nguyên liệu thô. Bài học từ cây điều, cây cà phê đã cho ta thấy điều đó.

PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) cho rằng: "Để đưa mắc ca trở thành cây hàng hóa, ngay từ bây giờ, chúng ta phải xây dựng được một chiến lược phát triển cây mắc ca, bắt đầu từ việc quy hoạch các vùng SX. Bên cạnh đó, phải xác định rõ kênh thị trường của cây mắc ca Việt Nam.

“Chúng tôi đồng ý là thị trường thế giới đang rất cần những sản phẩm chế biến từ nguyên liệu mắc ca, nhưng kênh thị trường đích thực lại khá mơ hồ. Khi nào công nghiệp chế biến chưa phát triển thì cây mắc ca vẫn còn long đong”, ông Ngãi nói.

Rất tâm huyết nhưng cũng trăn trở với việc phát triển cây mắc ca, TS Hà Huy Thịnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giống và công nghệ sinh học (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) chia sẻ: "Để đưa “đoàn tàu” cây mắc ca tăng tốc nhanh và đảm bảo an toàn thì cần phải có “chân phanh” tốt. Dựa trên năng lực SX giống mắc ca và một vài số liệu nhập giống từ nước ngoài, tôi khẳng định 2/3 diện tích mắc ca ở Tây Nguyên được trồng bằng cây thực sinh kém hiệu quả, bởi một cây mắc ca đầu dòng chỉ cho khoảng 100 mắt ghép đạt tiêu chuẩn.

Với quá ít vườn cây đầu dòng, chúng ta không thể tạo ra nửa triệu cây giống ghép chất lượng để cung cấp cho 1.600 ha cho khu vực Tây Nguyên được. Nếu trồng bằng cây thực sinh (nhân giống bằng phương pháp gieo hạt), năng suất mắc ca chỉ bằng 1/5 so với cây ghép giống tốt. Do đó, về mặt lâm sinh, phải sử dụng đúng giống".

Một tín hiệu đáng mừng trong mối liên kết 4 nhà để phát triển cây mắc ca, theo chuyên gia Nguyễn Lân Hùng đó là: “DN chủ động tìm đến nhà khoa học và người nông dân để tạo ra vùng nguyên liệu. Chúng tôi từng tổ chức một hội thảo về cây mắc ca ở TP.HCM thu hút khoảng 500 chủ DN, ngay sau đó đã có hàng trăm người lên Tây Nguyên tìm thuê đất và đầu tư làm ngay. Đó là tín hiệu rất đáng mừng”.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Minh Phúc
Bình luận Gửi phản hồi