Đường dây nóng : 091.352.8198

Phân bón Lâm Thao cho lúa mùa

Sử dụng phân hỗn hợp NPK Lâm Thao ngoài thành phần đạm, lân, kali còn bổ sung đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng, chất cải tạo đất.

Phân bón Lâm Thao cho lúa mùa
Niềm vui bội thu lúa mùa
Tin bài khác

Yêu cầu đất đai và thời vụ trồng lúa mùa

Cây lúa không kén đất. Ở nước ta lúa có thể được trồng và cho năng suất trên hầu hết các loại đất: Đất phù sa của các hệ thống sông, đất phèn, đất mặn, đất bạc màu.

Tuy vậy năng suất lúa cũng rất khác nhau do phụ thuộc vào các yếu tố hạn chế của đất. Đối với đất mặn, yếu tố hạn chế chính là nồng độ Clo cao, cho nên phải sử dụng các giống có khả năng chịu mặn.

Đối với đất phèn yếu tố hạn chế chính là thiếu lân và nồng độ sắt và nhôm cao, canh tác lúa trên loại đất này phải chọn những giống có khả năng chống chịu với các hạn chế trên.

Đối với đất bạc màu, yếu tố hạn chế chính là hàm lượng kali tổng số và dễ tiêu thấp.

Ở nước ta có 2 vùng khí hậu chính: Từ đèo Hải Vân trở ra phía bắc có khí hậu cận nhiệt đới, có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều nên trồng lúa có hai vụ chính: Vụ đông xuân và vụ mùa, để đạt năng suất cao phải chọn lịch gieo trồng thích hợp.

Vụ mùa cũng được chia 3 trà: Trà mùa sớm (gieo 5 - 10/6, cấy cuối tháng 6 đầu tháng 7, thu hoạch 5 - 15/9), trà mùa trung (gieo 15 - 25/6, cấy 5 - 15/7, thu hoạch cuối tháng 10) và trà mùa muộn (gieo cuối tháng 6, đầu tháng 7, thu hoạch tháng 11) với các giống lúa có thời gian sinh trưởng khác nhau nhưng được chia 2 nhóm giống, là lúa lai và lúa thuần.

Phía nam đèo Hải Vân khí hậu nhiệt đới điển hình có thể gieo trồng lúa ở bất cứ thời điểm nào trong năm, tuy vậy vẫn có 3 vụ lúa chính, đông xuân, hè thu và (mùa) thu đông.

Đối với vụ mùa (thu đông) do phụ thuộc thời gian của vụ đông xuân và hè thu nên cũng được chia 3 trà: Trà thu đông sớm (gieo 26/7 thu hoạch 25/10), trà thu đông chính vụ (gieo 10/8 thu hoạch 9/11) và trà thu đông muộn (gieo 26/8 thu hoạch 25/11).

Lượng phân bón cho lúa

Dự kiến năng suất 7 tấn/ha cần bón 118 kg N, 57 kg P2O5 và 48 kg K2O/ha. Còn với mức 5 tấn/ha chỉ cần bón 71 kg N, 35 kg P2O5 và 30 kg K2O.

Lượng bón thực tế có thể dao động 10 - 20% tổng số đạm bón và ngày bón phụ thuộc trạng thái đạm của cây ở từng giai đoạn phát triển.

Muốn bội thu năng suất thêm 1 tấn/ha (đối với giống lúa lai và giống có năng suất cao) ngoài phân đạm cần phải bón thêm 20 kg P2O5 và 30 kg K2O/ha. Còn đối với vụ mùa lượng phân bón giảm 10% so với lúa xuân.

NPK-S Lâm Thao cho lúa mùa

Hiện hàng loạt sản phẩm phân bón hỗn hợp NPK và phân chuyên dùng được nghiên cứu một cách bài bản, có tỷ lệ NPK phù hợp cho mỗi loại cây trồng, cho từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau một cách hợp lý, đáp ứng yêu cầu bón phân cân đối cho các cây trồng chính.

Sử dụng phân hỗn hợp NPK Lâm Thao ngoài thành phần đạm, lân, kali còn bổ sung đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng trung, vi lượng, chất cải tạo đất.

Thành phần lân trong NPK-S Lâm Thao có loại tan ngay được trong nước cung cấp cho cây ở giai đoạn đầu, có loại lân chậm tan cung cấp cho cây ở giai đoạn sau.

Đây là một trong các giải pháp ưu việt của phân bón Lâm Thao nhằm mục đích nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón cho lúa mùa nói riêng, cũng như các loại cây trồng nói chung.

Liều lượng và phương pháp bón NPK-S Lâm Thao cho lúa mùa (tính cho 1 sào Bắc bộ 360 m2)

Việc tính liều lượng và phương pháp bón phân NPK-S Lâm Thao dựa trên các cơ sở khoa học sau đây:

- Dựa trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã đạt được theo phương pháp quản lý dinh dưỡng lúa theo vùng (SSNM), tức là:

Cách bón phân cân đối theo nhu cầu của cây lúa theo từng giai đoạn phát triển ở từng xứ đồng cụ thể, ở từng mùa vụ nhất định; cân đối có nghĩa là đủ về lượng, cân đối về tỷ lệ; bón đúng lúc, đúng liều lượng, đúng tỷ lệ và phương pháp thích hợp;

Phân bón phải đáp ứng sự thiếu hụt giữa nhu cầu thiếu của các giống lúa về dinh dưỡng với khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất và từ phân hữu cơ, để từ đó liều lượng và phương pháp bón NPK-S Lâm Thao được tính cho 2 nhóm đất lúa, là đất phèn và đất lầy thụt ở các tỉnh phía Bắc; các loại đất lúa còn lại.

- Dựa vào điều kiện khí tượng, thủy văn và khả năng chăn nuôi của các hộ nông dân trong vụ lúa mùa như: Nếu nước lớn, to cao ở vụ mùa không bón lót đạm và do có tập quán bón lót lượng phân chuồng lớn (6 - 8 tấn/ha) chất lượng phân chuồng tốt nên cũng không nên bón lót đạm.

- Lượng lân và kali bón cho lúa dựa trên các thí nghiệm từng loại đất trồng lúa khác nhau để xác định mức bội thu trên các ô bón thiếu hụt lân và kali so với công thức bón đầy đủ và mức bón được tính dựa vào năng suất dự kiến.

- Đối với các giống lúa lai hoặc các giống lúa thuần có tiềm năng năng suất cao:

 Lượng bón cho 1 sào Bắc bộ (360 m2)

Cây lúa

Loại phân

Bón lót

Bón thúc thời kỳ đẻ nhánh

Bón thúc đón đòng

Đối với các giống lúa lai

hoặc

các giống lúa thuần có tiềm năng năng suất cao

Phân chuồng

200 - 300

 

 

NPK-S *M1 5.10.3-8

20 - 25

 

 

NPK-S *M1 12.5.10-14

 

8 - 9

7 - 8

Đối với các giống lúa thuần

Phân chuồng

200 - 300

 

 

NPK-S*M1  5.10.3-8

15 - 20

 

 

NPK-S*M1  12.5.10-14

 

8 - 9

7 - 8

Như vậy liều lượng và phương pháp bón phân như trên trong vụ mùa sẽ giúp nông dân khai thác được khả năng cung cấp dinh dưỡng của các vùng đất rất khác nhau để tăng hiệu quả kinh tế của việc bón phân (giảm lượng phân bón thừa thãi), tăng năng suất và phẩm chất lúa gạo, duy trì độ phì nhiêu của đất và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường.

Đây là mong muốn, cũng như trách nhiệm của Cty CP Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao đối với ngành trồng lúa nước ta.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
TS. Bùi Huy Hiền
Bình luận Gửi phản hồi