Thứ sáu, 22/09/2017 06:25 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Phát triển rừng cộng đồng, cần chính sách đột phá

20/12/2013, 08:31 (GMT+7)

Nước ta có hơn 15,3 triệu ha rừng. Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng nhưng cộng đồng dân cư thôn mới được giao gần 280.000 ha đất lâm nghiệp và giao để quản lý hơn 513.000 ha.

Nước ta có hơn 15,3 triệu ha rừng. Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng nhưng cộng đồng dân cư thôn mới được giao gần 280.000 ha đất lâm nghiệp và giao để quản lý hơn 513.000 ha.

Tương lai, diện tích rừng cộng đồng sẽ tăng lên do thực hiện chủ trương tiếp tục giao đất, giao rừng. Để phát triển rừng bền vững, rất cần có những cơ chế chính sách đặc thù tạo thuận lợi cho rừng cộng đồng phát triển.

Vừa bấp bênh vừa hiệu quả thấp

Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, phân thành 3 loại: Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống tự nhiên từ nhiều đời nay; Rừng và đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng; Rừng và đất rừng do các tổ chức, cơ quan nhà nước, các nông lâm trường giao cho cộng đồng.

Các tỉnh, thành phố có rừng đều khẳng định, giao rừng cho cộng đồng quản lý có vai trò nhất định trong việc BV&PTR. Khảo sát ở nhiều địa phương cho thấy, rừng được cộng đồng quản lý thì số vi phạm cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ là rất ít.

Cộng đồng còn bảo vệ được diện tích rừng đã giao không để xảy ra xâm lấn và hầu hết các vụ vi phạm cây lấy gỗ đều được phát hiện và xử lý, như ở các thôn: Lũng Vài, Lũng Các (Cao Bằng); Bản Lằn (Sơn La); Suối Lông (Lạng Sơn); thôn Vài (Hòa Bình)…

Theo các chuyên gia, để bảo vệ rừng cộng đồng, dứt khoát phải dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, từ thực tế, các địa phương cho rằng, hiện nay địa vị pháp lý của cộng đồng còn chưa rõ ràng, chính sách hỗ trợ còn hạn chế.

Cộng đồng QLBVR đem lại nhiều lợi ích

TS Nguyễn Nghĩa Biên, Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng, GĐ Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN phân tích: Luật Đất đai, Luật BV&PTR đã quy định cộng đồng dân cư là đối tượng được Nhà nước giao đất, rừng để quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

Các văn bản hướng dẫn luật cũng đã có, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế hoặc còn thiếu các quy định cần thiết, như đối tượng rừng giao cho cộng đồng, điều kiện được giao rừng; thời hạn, hạn mức giao rừng, khai thác gỗ với mục đích thương mại; cơ chế hưởng lợi, tiêu thụ sản phẩm; cơ chế nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ đầu tư để tạo thuận lợi cho các cộng đồng QVBVR được giao.

“Hiện đang tồn tại 2 loại hình xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng cộng đồng. Đó là quyền do Nhà nước công nhận và quyền cộng đồng tự công nhận. Quyền do Nhà nước công nhận thông qua chính sách giao đất, giao rừng…

Nhưng trên thực tế lại chưa xác lập quyền hưởng lợi rõ ràng với cộng đồng, chưa có cơ chế, chính sách cho cộng đồng được sử dụng rừng theo nguyên tắc bền vững. Quyền do cộng đồng tự công nhận thông qua quy ước, hương ước thì thiếu tính pháp lý, cộng đồng không yên tâm trong quản lý, sử dụng.

Cộng đồng tham gia quản lý rừng chủ yếu là các cộng đồng dân tộc thiểu số. Rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp nên nguồn thu từ rừng rất hạn chế, nguy cơ rừng cộng đồng bị suy giảm là thực tế", ông Biên phân tích.

Kiến nghị nhiều chính sách đột phá

Là cơ quan chủ trì thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN”, Viện Điều tra quy hoạch rừng đề xuất, cần thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng; huy động nguồn lực của xã hội vào việc BV&PTR, gắn với xóa đói giảm nghèo; nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào nghèo miền núi.

Đồng thời, bảo đảm thống nhất về mặt pháp lý giữa những quy định về cơ chế chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn với các quy định khác về QLBVR, Luật Đất đai, pháp luật về đầu tư, tài chính…

Theo TS Nguyễn Nghĩa Biên, nên mở rộng khái niệm về quản lý rừng cộng đồng theo hướng: Quản lý rừng của cộng đồng; Quản lý rừng dựa vào cộng đồng; Đồng quản lý rừng; Quản lý rừng theo nhóm hộ.

Khái niệm về sử dụng rừng cũng cần được mở rộng như khai thác lâm sản, các giá trị dịch vụ môi trường rừng (điều tiết nước, bảo vệ đất, kinh doanh du lịch sinh thái, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ khí thải carbon REDD+…), bảo tồn đa dạng sinh học.

Cộng đồng dân cư có rừng cộng đồng cũng phải được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước; Được chuyển đổi rừng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh trồng rừng; thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu rừng SX là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân để kinh doanh và dịch vụ lâm nghiệp.

Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN cũng đang tham mưu giúp các cơ quan chức năng xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn. Dự thảo dự kiến đưa ra nhiều chính sách mang tính đột phá.

Chẳng hạn, rừng phòng hộ nằm trong phạm vi một xã, thôn hoặc nhiều xã, có diện tích dưới 1.000 ha; rừng SX phân tán gần cộng đồng dân cư thuộc ban quản lý rừng, lâm trường quốc doanh…, sẽ được giao cộng đồng dân cư quản lý. Trong đó, sẽ giao cả rừng tự nhiên giàu và trung bình cho cộng đồng dân cư thôn quản lý chứ không chỉ là giao đất trống, rừng nghèo kiệt như hiện nay.

Với các khu rừng tự nhiên là rừng phòng hộ, khi đạt tiêu chuẩn về phòng hộ thì được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn độ tàn che của rừng sau khi khai thác phải lớn hơn 0,6. Toàn bộ giá trị sản phẩm gỗ khai thác sau khi trừ chi phí, cộng đồng phải nộp 10% để xây dựng quỹ BV&PTR cấp xã, 90% thuộc quyền quản lý của cộng đồng, do cộng đồng tự quyết định phân chia theo quy chế, hương ước.

Với rừng SX là rừng tự nhiên, ngoài việc tận dụng, tận thu lâm sản ngoài gỗ, trừ động thực vật quý hiếm theo quy định, hằng năm cộng đồng được chặt chọn với cường độ dưới 15% trữ lượng.

Rừng cộng đồng cũng sẽ được hưởng các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Hằng năm, sẽ được ưu tiên hỗ trợ vốn từ ngân sách Nhà nước với mức từ 100.000 - 200.000 đồng/ha/năm để bảo vệ rừng được giao tùy theo mức độ nguy cơ mất rừng và loại rừng; khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên có kết hợp trồng bổ sung 1 triệu đồng/ha/6 năm (năm đầu 500.000 đồng); sau 5 năm được xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ đầu tư.

Trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc quy hoạch là rừng phòng hộ được hỗ trợ 15 triệu đồng/ha và sẽ điều chỉnh mức hỗ trợ sau 5 năm.

HOÀNG PHI

Đang được quan tâm

Gửi bình luận