Thứ hai, 25/09/2017 05:08 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Phú hộ chè Thái Nguyên

17/02/2011, 10:19 (GMT+7)

Ở hầu hết các vùng chè nổi tiếng của tỉnh ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình giàu có, những triệu phú, tỷ phú nhờ làm chè.

Có rất nhiều mô hình hộ gia đình nông dân Thái Nguyên đã làm giàu từ cây chè. Làm sao để duy trì và phát triển nhiều hơn nữa những nông hộ như vậy?

Một sào chè “đè” ba sào lúa

Tiến sỹ nông nghiệp Hoàng Văn Dũng (Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, người nông dân đã và sẽ làm giàu được từ cây chè nhưng không phải ai và ở bất kỳ nơi nào cũng làm được.

Những năm trước, cây chè được coi là cây mũi nhọn trong xoá đói giảm nghèo, giờ đây, nó được coi là cây trồng chủ lực để người nông dân Thái Nguyên vươn lên làm giàu. Năm 2005, năng suất chè của Thái Nguyên chỉ đạt 66,3 tạ/ha. Đến năm 2009, năng suất đã tăng lên 98,8 tạ/ha. Chính vì vậy, giá trị thu nhập bình quân của người làm chè tại Thái Nguyên đã tăng từ 36,5 triệu đồng/ha (năm 2005) lên 53 triệu đồng/ha (năm 2009). Trong khi đó, giá trị của chè Thái Nguyên trên thị trường ngày một nâng cao. Ở hầu hết các vùng chè nổi tiếng của tỉnh ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình giàu có, những triệu phú, tỷ phú nhờ làm chè.

Một điểm chung của những phú hộ chuyên chè là họ được sở hữu một diện tích đất chè khá lớn, có năng lực tổ chức sản xuất và tuân thủ quy trình sản xuất mang tính tất yếu khách quan (làm chè theo hướng an toàn). Với diện tích 3 mẫu chè, gia đình ông Nguyễn Văn Minh (xóm Phố Hích, xã Hoà Bình, huyện Đồng Hỷ) thu nhập trên dưới 300 triệu đồng mỗi năm. Ông Minh cho hay, để có được mức thu nhập như vậy, ông đã phải mạnh dạn chuyển toàn bộ vườn chè sang các loại chè cành, chè giống mới và áp dụng quy trình thực hành sản xuất tốt. Tương tự, gia đình ông Bàng Văn Thanh (xóm Vân Long, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ) cũng thu nhập gần 300 triệu đồng mỗi năm từ 1 ha chè giống mới. Ông Thanh khoe, nhà cao, cửa rộng, con cái phương trưởng thành đạt đều là từ chè mà ra cả. Xóm Vân Long (Hùng Sơn) là một trong hai vùng chè ngon nổi tiếng (cùng với La Bằng) của huyện Đại Từ. Hầu hết người dân trong xóm đều khẳng định, hiện tại chưa có cây trồng nào so được với chè. Chè chính là cây mang lại sự phồn thịnh cho xóm làng, “một sào chè đè 3 sào lúa”.

Tổng kết và phân tích thực tiễn, ông Nguyễn Thanh Phương (Trưởng phòng NN & PTNT huyện Đồng Hỷ) cho rằng, phần lớn những gia đình có thu nhập cao từ làm chè đã áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGap. Sản phẩm chè an toàn được bảo hộ về giá trị cũng như chất lượng đã thôi thúc người nông dân tự giác thực hiện phương thức sản xuất mới. Theo họ, sản xuất chè an toàn là cần thiết, là hợp với xu thế và trào lưu phát triển chung. Mạnh dạn thay đổi cách thức sản xuất sẽ mang lại sự tiến triển tích cực cho giá trị trên những nương chè.

Cần quy hoạch tổng thể

Một thực tế đối lập hiện nay là người làm chè Thái Nguyên vẫn chưa tận dụng hết những lợi thế của mình vì hiện tại một số địa phương còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Có các gia đình chỉ biết nhà nào nhà nấy làm, tự học, tự mày mò. Người có kinh nghiệm, bí quyết làm được chè ngon thì bán với giá cao, còn lại đều mang ra chợ bán chè mộc, chè nguyên liệu giá rẻ. Bởi vậy, việc tạo thành mối liên kết cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè của các làng nghề ở Thái Nguyên vẫn chưa thực hiện được tốt.

Ông Hoàng Văn Dũng (PGĐ Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) cho biết, với gần 18.000 ha và năng suất bình quân đạt 107 tạ/ha, Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích chè (sau Lâm Đồng) và đứng số 1 về năng suất. Tháng 6/2011 là thời điểm đã được tỉnh Thái Nguyên ấn định để hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn.
Rõ ràng, để người nông dân làm giàu từ cây chè mang tính phát triển bền vững thì giá trị thu nhập phải không ngừng nâng cao. Ông Đặng Viết Thuần (Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên) đặt vấn đề, những người đã giàu từ chè là so với những người đang nghèo hiện tại nhưng liệu lâu dài thì họ có duy trì và phát huy được cái gọi là giàu nữa hay không? Vậy thì, việc quan trọng là phải tạo được một quy hoạch đồng bộ mang tính hệ thống để định hướng chiến lược, liên tục thúc đẩy thật nhanh, thật mạnh giá trị thu nhập. Nếu chủ nghĩa nhiệm kỳ, tức là bằng lòng với thu nhập hiện tại thì nhanh chóng bị thụt lùi. Theo đó, việc quy hoạch sẽ hình thành những vùng sản xuất chè an toàn tập trung, góp phần hình thành thương hiệu sản phẩm. Những nông hộ có diện tích sản xuất chè hạn chế sẽ phải hợp tác, tích tụ để hình thành vùng sản xuất tập trung.

Các chủ doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè trên địa bàn Thái Nguyên cho rằng, chè Thái Nguyên đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà Nước bảo hộ. Tuy nhiên, thương hiệu đó chỉ “thống soái” đối với thị trường nội tiêu, còn việc tạo cho nó chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế là vấn đề không nhỏ đặt ra đối với ngành sản xuất, chế biến chè của tỉnh. Bà Nguyễn Thị Nguyệt (GĐ doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt) phân tích, trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu chè Thái Nguyên hầu hết là xuất khẩu thô, giá trị kinh tế thấp, thậm chí giá trị của chè xuất khẩu còn thấp hơn cả giá trị chè nội tiêu. Doanh nghiệp trà Hạnh Nguyệt với sản phẩm “siêu” chè (trà hoa nghệ thuật) đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu nâng tầm giá trị chè Thái Nguyên lên trên dưới 10 triệu đồng/kg. Các nông hộ cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp đương nhiên sẽ được hưởng lợi cao hơn. Vì vậy, việc quy hoạch chè phải đảm bảo được sự đồng bộ giữa 4 nhà, tạo ra tính tương hỗ để kích ứng phát triển.

ĐỒNG VĂN THƯỞNG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận