Đường dây nóng : 091.352.8198

Quy trình kỹ thuật thâm canh giống lúa Japonica chất lượng cao ĐS1

Đây là giống cảm ôn nên gieo cấy được nhiều vụ trong năm; khả năng thích ứng rộng...

Tin bài khác

ĐS1 là giống lúa thuần thuộc loài phụ Japonica do GS.TS. Hoàng tuyết Minh, GS. TS. Đỗ Năng Vịnh cùng các cộng sự thuộc Viện Di truyền Nông nghiệp tuyển chọn từ nguồn vật liệu nhập nội. Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương sản xuất và phân phối.

Để giúp cán bộ các địa phương và bà con nông dân có thêm thông tin đầy đủ về sản phẩm trong quá trình sản xuất và chỉ đạo sản xuất, xin quý độc giả tham khảo bài viết sau:

1, Đặc điểm chính: Đây là giống cảm ôn nên gieo cấy được nhiều vụ trong năm; khả năng thích ứng rộng, đã và đang được gieo cấy ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước như: Trung du miền Núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng ven biển Bắc và Nam Trung Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, trên các chân đất có độ phì từ trung bình đến khá thuộc các loại đất vàn, vàn cao hoặc vàn thấp.

Trên phạm vị cả nước, ĐS1 cho năng suất rất cao, trung bình 6,5-7,0 tấn /ha, cao nhất đạt 8,5-9,0 tấn/ha trong vụ Xuân. Chất lượng xay xát cao (82% gạo lật, 78% gạo xát, 70% gạo nguyên); cơm trắng, mềm, ngon và đậm, để nguội không khô.

* Thời gian sinh trưởng: các tỉnh miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng vụ Xuân: 140-145 ngày, vụ Mùa: 115-120 ngày; các tỉnh Trung du Bắc Bộ; vụ Xuân 135-140 ngày, vụ Mùa: 110-115 ngày; Tại Nam Trung Bộ, vụ Đông xuân 110-115 ngày; vụ Hè Thu 100-105 ngày.

Nhìn chung tại các tỉnh từ Bắc Trung Bộ trở vào thời gian sinh trưởng rút ngắn 5-7 ngày so với Đồng bằng sông Hồng. Nếu dùng phương pháp gieo sạ thì thời gian rút ngắn 3-5 ngày so với phương pháp cấy ở tất cả các vùng.

* Chiều cao cây của ĐS1 trung bình 100-105 cm, lá đòng đứng, lòng mo, đẻ nhánh khỏe và gọn, chống đổ tốt. Hạt bầu tròn, màu vàng, khối l­ượng 1000 hạt 26-27 gam. ĐS1 là loại hình cứng cây, chống đổ, chịu rét rất tốt, chống chịu sâu bệnh tốt, chịu thâm canh.

* Thời vụ: Do ĐS1 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm trung bình nên thời vụ gieo cấy tuân thủ theo khung thời vụ ở mỗi địa phương như Xuân chính vụ, Mùa trung.

- Vùng núi phía Bắc: vụ Xuân gieo từ ngày 01đến 15/1, cấy khi mạ có 4-5 lá; vụ Mùa gieo từ ngày 10 đến 30/6, cấy khi mạ  12-15 ngày tuổi. Các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng… thời vụ có thể gieo muộn hơn do phụ thuộc thời tiết và nước trời.

- Vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du Bắc Bộ: vụ Xuân, mạ dược gieo từ 10 -30/12, tuổi mạ cấy 4-5 lá, mạ sân gieo từ 10- 20/1, cấy xung quanh tiết lập xuân (5/2), tuổi mạ 3-4 lá; vụ Mùa gieo trong tháng 6, cấy tuổi mạ 12-15 ngày.

- Vùng Bắc Trung bộ: vụ Xuân gieo từ 1- 15/1, tuổi mạ cấy 4-5 lá; vụ Hè Thu gieo từ 20- 30/5, cấy khi mạ 12-15 ngày tuổi.

- Vùng Nam Trung bộ: vụ Đông Xuân sạ từ 20-31/12; vụ Hè Thu sạ từ 20-30/5.

Cần đặc biệt lưu ý: Do khả năng chịu nóng của ĐS1thời kỳ mạ không cao nên cần chú ý giữ đất mạ đủ ẩm và chăm sóc đủ phân nhằm tăng cường sưc khỏe của mạ, để sau cấy lúa bén rễ hồi xanh nhanh và đẻ nhánh sớm.

* Mật độ cấy: vụ Xuân  45-50 khóm/m2; Vụ Mùa cấy 50-55 khóm/m2, cấy 2 - 3 dảnh/khóm; cấy nông tay; đất có độ phì cao thì cấy thưa hơn và trên đất nghèo dinh dưỡng thì cấy rấy hơn. Khi nhổ và vận chuyển mạ không được làm rập hoặc gẫy mạ.

* Phân bón: Để đạt mức năng suất cao nhất của giống  cần bón phân cân đối, tập trung, bón sớm và nên sử dụng phân tổng hợp NPK bón lót và bón thúc. Tốt nhất nên dùng phân tổng hợp NPK Văn Điển. Lượng phân bón tùy thuộc từng loại đất: trên chân đất trung bình bón:  Bón lót (trước khi bừa cấy 7-8 tấn phân hữu cơ (hoặc 2000 kg phân vi sinh) + 560-700 kg/ha NPK loại 5:10:3. Khi lúa bén rễ hồi xanh: vụ Xuân bón 280-340 kg/ha NPK loại 16:5:17 + 30 kg Đạm Urê, vụ Mùa bón 220-280 kg/ha NPK loại 16:5:17  + 30 kg Đạm Urê kết hợp làm cỏ sục bùn.

Khuyến cáo: Nên bón nuôi hạt bằng Kalidihydrotriphốtphát (KH2­PO4) kết hợp phòng trừ bệnh lem lép hạt và hoa cúc bằng thuốc Tilsuper. Phun thuốc Tilsuper khi lúa bắt đầu trỗ xong phối hợp với 3 kg KH2­PO4.

* Chăm sóc: Giữ nước trên ruộng 3-4cm sau cấy để tránh giá rét hoặc nắng nóng làm chết đỉnh sinh trưởng, tiếp tục giữ mức nước 3-5cm cho đến khi kết thúc đẻ nhánh, làm đòng và trỗ xong. Rút nước phơi ruộng ở mức mất lấm cho tới khi thu hoạch. tỉa dặm kịp thời, khử lẫn thường xuyên, đặc biệt giai đoạn trước thu hoạch 10 ngày.

* Phòng trừ sâu bệnh: ĐS1 là giống ít nhiễm sâu bệnh nhưng vẫn phải thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để sớm phát hiện và phòng trừ kịp thời một số sâu bệnh nếu có trên đồng ruộng và xử lý theo hướng dẫn của cơ quan Bảo vệ thực vật địa phương.

* Cách ngâm ủ hạt giống

ĐS1 là giống có tính ngủ nghỉ sau thu hoạch nên khi ngâm ủ hạt giống phải thực hiện phá ngủ như sau:

- Đối với giống cũ đã qua bảo quản 1 vụ cần ngâm trong 48h, cứ sau 12 giờ đãi hạt và thay nước một lần. Khi thấy hạt đã hút đủ nước (phần phôi hạt trắng đều) thì đãi sạch rồi ủ.

- Đối với hạt giống mới chuyển vụ cần xử lý phá ngủ trước khi ngâm ủ. Cách phá ngủ thông thường nhất là xử lý bằng dung dịch nước lân super 5%.

Cách làm:

- Cách 1: Cứ 10 lít nước cần 0,5 kg super lân Lâm Thao (lượng nước và lân cần tính vừa đủ ngâm lượng giống). Hòa tan lân rồi ngâm lượng hạt giống vào nước lân trong 10 giờ, sau đó đãi sạch nước lân rồi tiếp tục ngâm ủ bình thường. Thời gian ngâm khoảng 60-70 giờ, cứ 10-12 giờ lại đãi chua và thay nước một lần.

- Cách 2: Phá ngủ bằng axit nitơric 0,3% (pha 3ml axit nitơric trong 10 lít nước) ngâm trong 24 giờ. Sau đó đãi sạch axit rồi ngâm trong 40 giờ, cứ 10-12 giờ lại đãi chua và thay nước 1 lần. Sau khi vớt thóc phải đãi sạch nước chua, để ráo nước rồi ủ bình thường. Trong quá trình ủ  hạt giống chỉ thực hiện tưới nước khi hầu hết các hạt giống đã nứt nanh (Gai dứa).

Địa chỉ liên hệ và tư vấn:

Công ty cổ phần giống cây trồng Trung ương

Trụ sở chính: Số 1, Lương Định Của, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

Điện thoại: 04.38523294; 04.38523267.

Fax: 04.38527996  * Website:  www.vinaseed.com.vn

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
GS.TS. Hoàng tuyết Minh
Bình luận Gửi phản hồi