Đường dây nóng : 091.352.8198

Thật thà

Chuyện nhà ông Đẩu hói chẳng khác tích truyện nhà vua luộc hạt giống để thử lòng thật thà các hoàng tử là mấy. Có chăng là ông bắt 2 đứa con trai góp rượu để làm rượu cúng, giỗ.

Tin bài khác

Xưa có một ông vua tuổi đã cao, sức đã yếu, mà các con lại còn nhỏ dại. Đúng là “cha già con cọc”. Ông có tới bốn hoàng tử, nhưng tuổi sàn sàn. Cậu lớn nhất, mới mười hai tuổi. Cậu nhỏ nhất sáu tuổi. Bốn cậu đều khôi ngô, tuấn tú. Nghĩa là đều xứng đáng kế vị vua cha.

Nhưng cuối cùng thì chỉ có một người ngồi lên ngôi báu. Thông thường, người anh cả sẽ kế vị. Nhưng ông bỏ thông lệ này, bởi muốn chọn một người thực sự tài, đức. Một ông vua xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân. Đó là yếu tố quyết định để đất nước hưng thịnh hay suy vong.

Một hôm ông gọi bốn chàng hoàng tử lại và nói rằng: “Các con ơi! Có một vị quốc vương vừa đến thăm ta, cho ta một đấu hạt giống. Đây là loại giống lúa rất quý. Nếu mát tay, chăm sóc tốt, không những hạt gạo thơm ngon, mà năng suất còn cao gấp đôi giống lúa tốt nhất của vương quốc ta.

Giống lúa này phát triển, sẽ giải quyết được nạn thiếu đói, dân ta sẽ ấm no, đất nước sẽ phồn vinh. Ta thấy không thể trao cho bất cứ ai, ngoài các con. Ta cho các con mỗi người số hạt giống bằng nhau, gieo trên bốn vuông đất như nhau. Sau này ruộng của ai tốt nhất, ta sẽ trọng thưởng”.

Nói rồi, ông dùng cái đấu nhỏ, chia đều cho bốn hoàng tử. Các hoàng tử cảm ơn vua cha, rồi cùng ra nhận vuông đất của mình. Mỗi hoàng tử đều có những cận thần giúp việc tận tình. Họ cùng các hoàng tử làm đất, bón phân và gieo hạt. Tuy nhiên, vua cha bố trí các vuông đất ở bốn nơi khác nhau, nên các hoàng tử không biết được hạt giống của ai mọc tốt, ai mọc xấu.

Nhẩm tính đã đến ngày cây mạ non có thể đem cấy, vua cha bèn truyền các con lại, và cùng bốn hoàng tử đi xem vuông mạ của mình. Đầu tiên vua đến xem của hoàng tử lớn tuổi nhất. Vuông mạ xanh rờn, đều tăm tắp, trông thật thích mắt. Đến vuông thứ hai, mạ lên tốt chả kém. Vuông của hoàng tử ba, xem chừng còn vượt trội hơn. Hoàng tử ba thấy vua đứng trầm ngâm hồi lâu ở vuông đất của mình, thì khấp khởi mừng thầm. Nhưng nhà vua không nói gì.

Bây giờ, vua thong thả đến xem vuông đất của hoàng tử út. Bỗng cậu út bật khóc khi dẫn vua cha đến vuông đất của mình. Vuông đất không hề có lấy một cái mầm nào nhú lên. Trơ trơ phơi ra mầu đất xám. Cậu út thổn thức: “Thưa cha! Con đã cố hết sức chăm sóc, nhưng cây vẫn không mọc được. Con quả là đứa bất tài”.

Nhà vua tiến lại phía cậu út. Ông xoa đầu hoàng tử với một vẻ trìu mến và xúc động vô cùng. Ông nói: “Con của ta! Chính con mới là người con hiếu thảo và ngoan ngoãn nhất. Bởi những hạt giống giao cho các con, ta luộc nó lên rồi. Hạt đã luộc chín, làm sao nẩy mầm? Những vuông đất nẩy mầm xanh tốt kia, các anh con đã đánh tráo bằng hạt giống khác”.

Người con út nở nụ cười trên khuôn mặt vẫn còn ngân ngấn nước mắt. Vua cha quay về phía ba hoàng tử kia, giọng nghiêm nghị: “Các con có biết dối vua là mắc tội gì không? Các con chưa đến tuổi vị thành niên, nên ta tha tội cho. Nhưng hãy luôn nhớ tội để sửa mình”. Ba hoàng tử sụp xuống lạy vua cha, rồi lủi mất vì quá xấu hổ. Sau khi vua cha qua đời, ngôi báu đã được trao cho hoàng tử út.

Đấy là chuyện ngày xưa. Còn chuyện ngày nay như sau:

Phố HC, dân trong phố và cả khách vãng lai, không ai lạ gì hai quán phở ở đầu phố và cuối phố. Hai quán đều là phở gia truyền, nhưng chỉ quán cuối phố là đông. Sáng nào khách cũng chen chúc, bàn ghế phải kê thêm ra vỉa hè. Người ta gọi là quán Đẩu hói.

Quán này bán cũng bằng giá với các quán phở lân cận, nhưng sở dĩ nó đông, vì bát phở đầy đặn. Thực ra, đầy đặn không hấp dẫn khách bằng nó ngon. Cái nồi nước dùng thì “thôi rồi”. Ai ăn một lần, nhớ mãi. Cái lý do đông khách, là như thế.

Bây giờ, không kể chuyện hàng phở của Đẩu hói, mà xin kể về gia cảnh ông ta.

Đẩu hói chỉ có hai con. Đều là trai cả. Năm nay ông đã “thất thập” rồi, nên tính chuyện truyền nghề lại cho các con. Cũng như ông vua ở truyện trên, ông muốn truyền cho người con nào thật thà, làm ăn có đức. Bởi điều này rất quan trọng. Người ăn phở ngày nay tinh lắm. Chỉ cần kém đi, kém dần dần thôi, thì người ta cũng dần dần bỏ mình luôn. Khách đã bỏ đi, không bao giờ trở lại. Và thế là mất khách.

Thấu hiểu điều này, nên một hôm nhân sắp đến ngày giỗ ông nội, ông Đẩu gọi hai con đến mà rằng: “Vừa rồi ông bạn cố tri ở Tây Nguyên ra chơi, cho thầy thang thuốc ngâm rượu hay lắm. Thầy bèn mua hai lít rượu, ngâm trong cái hũ này. Nhưng rượu thì nặng, mà thuốc thì đặc, nên thầy nhờ các anh, mỗi anh kiếm hai lít rượu ngon, góp vào. Đến ngày giỗ, ta sẽ có hũ rượu đặc biệt để uống”.

Nghe lời thầy, ngay sáng hôm sau, anh cả và anh út đã xách can hai lít rượu trắng đến. Ông Đẩu mở nút, trịnh trọng rót rượu vào. Xong, ông đậy lại, buộc lạt như cũ.

Đến ngày giỗ, khi các con tề tựu đông đủ, ông Đẩu mới bê hũ rượu ra, tháo lạt, mở nút. Ông cẩn thận lấy cái duộc, múc rượu ra chén. Hai anh con trai trố mắt nhìn. Rượu trong vắt, bưng chén lên nhấp một ngụm, cả hai bỗng nhổ phì phì. Té ra, chỉ là nước lã.

Chuyện thật dễ hiểu. Cái hũ của ông Đẩu, chỉ là hũ không. Còn anh cả và anh hai, nghĩ giống nhau, rằng người kia góp hai lít rượu, ta chỉ cần góp hai lít…nước lã. Thì cũng chỉ là nhạt hơn một chút. Ai dè…

Chuyện hũ rượu đã khiến cho ông Đẩu rất buồn. Kết cục là ông mang bí quyết xuống mồ, không truyền cho cậu cả, cũng không truyền cho cậu út…

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Đỗ Bảo Châu
Bình luận Gửi phản hồi