Thứ hai, 20/11/2017 04:55 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Theo người làng đi… mổ máy

05/01/2012, 10:31 (GMT+7)

"Vất vả, nhưng mà công cao, bác ạ. Cơm chủ nuôi, ăn uống thoải mái rồi, ngày còn bỏ túi trăm rưỡi (150 ngàn) nữa". Nghe mấy đứa cháu gọi điện khoe vậy, tôi quyết định tìm lên xem chúng nó “mổ máy” thế nào.

Mổ cả xe tăng, máy bay, tàu thủy

Xin thưa ngay rằng từ “mổ máy” ở đây hoàn toàn được dùng theo nghĩa đen, đó là việc mổ những cỗ máy, những khối thiết bị… đã trở thành đồng nát. Nơi mấy đứa cháu tôi “mổ” thuê là làng Quan Độ thuộc xã Văn Môn huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh.

Không rõ nghề đồng nát được du nhập vào Quan Độ từ bao giờ, nhưng bây giờ thì cái làng vốn có gốc thuần nông này đã biến thành một “công xưởng đồng nát” hoạt động nhộn nhịp suốt ngày đêm. Phố đồng nát Quan Độ kéo dài khoảng một cây số, suốt dọc phố chỉ thấy ngổn ngang gò đống, chồng chất toàn sắt thép cũ, máy móc cũ, xe cũ… Bước vào làng, người lạ dễ ngộp thở bởi một thứ mùi khủng khiếp, tổng hợp từ mùi sắt thép cháy, sơn cháy, dầu máy cháy, nhựa cháy…và đinh tai nhức óc bởi tiếng ồn. Đó là tiếng búa tạ đập vào sắt thép, tiếng động cơ các loại xe, các loại cần cẩu, tiếng hàng chục tấn sắt thép từ các thùng xe trút xuống… Đường làng bị băm nát bởi mỗi ngày có hàng trăm chiếc xe tải loại lớn ra vào chở máy móc, thiết bị cũ từ nơi khác về để “mổ” và chở đồng nát đi tiêu thụ. Mấy người người làng tôi vừa “mổ” xong một chiếc xe KaMat bị tai nạn không thể khôi phục nữa, được kéo từ Quảng Ninh về. Chưa đầy buổi sáng, cái xe kềnh càng nặng mấy chục tấn đã thứ nào ra thứ ấy. Anh Nam, một “đại gia đồng nát” người bản địa, bảo: "Đến xe tăng, máy bay, tàu thủy… chúng tôi còn coi như bỡn nữa là. Ô tô là thứ dễ mổ nhất, mổ một chiếc ô tô chẳng khác nào mổ một con lợn hay con bò..."

Điều Nam nói không sai. Mấy năm trước, anh đã trúng thầu mua được con tàu chiến Mỹ trên 2 ngàn tấn bị đánh chìm trong chiến tranh ở biển Vũng Tàu. Mua được rồi, phải thuê một kíp thợ lặn xuống khảo sát, thuê trục vớt, sau đó mới đưa đội quân “mổ” vào để banh xác nó ra, thuê mấy toa tàu hỏa chở về. Mất đúng 7 tháng trời mới hoàn thành. Lần khác, một người làng mua được gần chục cái xe tăng cũ, cho lên ô tô chở về làng xếp la liệt, trông cứ tưởng một tiểu đoàn tăng chuẩn bị hành quân. Một người khác trúng thầu phá dỡ cả nhà máy Supe-phốt phát Lâm Thao, lôi về mấy ngàn tấn từ sắt thép đến máy móc, cáp điện… Còn máy bay, có tới vài ba chục cái đủ cả cánh quạt, phản lực, trực thăng đã bị mổ ở đây rồi. Một tỷ phú sắt vụn khác, ông Lượng, thì ước ao: Có lần xem báo, thấy người ta nói về cái nghĩa địa máy bay B52 ở Mỹ, có đến hàng trăm chiếc, mà mê. Giá bên Mỹ họ bán cái nghĩa địa ấy, và bên mình cho nhập, thì dân Quan Độ chúng tôi kéo nhau sang ngay. Và tôi đảm bảo với bác, chỉ vài năm là chúng tôi dọn sạch.

Lời ông Lượng cho thấy một điều, là năng lực và tiềm lực của làng đồng nát Quan Độ rất lớn. Làng có trên 400 hộ, với trên dưới hai ngàn rưởi khẩu, nhưng có không dưới 50 doanh nghiệp tư nhân chuyên doanh về đồng nát, và không dưới trăm tỷ phú đồng nát. Đến Quan Độ, thấy biệt thự tiền tỷ san sát, xe hơi tiền tỷ nhan nhản. Có mối hàng, người Quan Độ “vay nóng” nhau vài ba tỷ để “đánh” là chuyện rất thường. Những “đại gia đồng nát” Quan Độ có “tai mắt”, tức là có cộng tác viên, ở khắp mọi miền đất nước. Bất cứ nơi nào xuất hiện một mối hàng, chỉ cần một cú điện thoại của cộng tác viên là các ông chủ công ty hay các hộ đồng nát lớn tìm đến ngay. Sau mỗi hợp đồng, những người mách mối đều được hoa hồng rất hậu hỹ, nên các cộng tác viên đều rất nhiệt tình lùng sục. Nhìn một chiếc xe, chiếc tàu hay một phân xưởng, một nhà máy cũ cần phá dỡ, những ông chủ doanh nghiệp hay chủ hộ đồng nát lớn của Quan Độ có thể xác định rất nhanh mức lãi có thể thu được, không mấy khi sai. Với một nhà máy cũ cần phá dỡ, ngoài phần nổi, họ còn đánh giá được cả phần chìm (như hệ thống cáp điện ngầm chẳng hạn). Thế nên hàng chục năm nay, chưa có một trường hợp nào ở Quan Độ phải phá sản do kinh doanh thua lỗ.

Thu nhập cao

Nhờ có nghề đồng nát, người Quan Độ không ai thất nghiệp. Thanh niên có thu nhập bốn năm triệu mỗi tháng nhờ làm thuê cho các doanh nghiệp hay các chủ hộ đồng nát lớn là chuyện bình thường, phụ nữ tuy yếu hơn nhưng cũng có thu nhập vài ba triệu. Ngoài người làng, các doanh nghiệp và các hộ đồng nát lớn còn thu hút hàng trăm lao động từ các vùng khác tới. Muốn đến Quan Độ làm việc, người lao động phải có nghề. Phổ thông nhất là hai nghề hàn và cơ khí.

Để phá dỡ một chiếc ô tô cũ chẳng hạn, những người thợ cơ khí sẽ chịu trách nhiệm tháo dỡ phần máy móc rồi phân thành từng loại phụ tùng. Những người thợ hàn sẽ cắt những thùng xe bằng sắt thành từng tấm. Xe tăng cũng vậy. Máy bay là thứ khó phá dỡ nhất, cần thận trọng nhất, đặc biệt là phần điện, bởi trong đó nhiều khi có cả kim loại quý như vàng, bạc hay bạch kim, mà những thứ này có khối lượng không nhiều, sơ xảy một tý là mất ngay. Sau khi bị “mổ” và phân loại, tùy từng loại phụ tùng hay thiết bị, những ông chủ của chúng sẽ có mối bán riêng, tùy theo nhu cầu của thị trường. Ví như mấy năm trước, khi xe công nông còn chưa bị cấm, thì vòng bi, cầu, trục các đăng, trục bánh, la zăng…của các loại ô tô cũ cỡ nhỏ có bao nhiêu được các cơ sở sản xuất xe công nông mua hết bấy nhiêu, bây giờ chỉ có xuất cho các cơ sở tái chế sắt thép.

“Mổ máy” là một loại công việc được trả công cao, nhưng vô cùng khó nhọc và độc hại. Thợ mổ máy bị sứt chân, sứt tay là chuyện bình thường. Máy móc cũ nào cũng còn sót lại một lượng dầu máy hay mỡ bên trong. Đưa cần hàn vào cắt lốc máy hay chân máy, dầu mỡ ấy cháy, xộc trực tiếp vào người làm. Thiết bị nào cũng được phủ sơn. Gặp lửa hàn, sơn cháy cũng phả trực tiếp vào người thợ. Rồi thì sắt thép cháy, nhôm cháy khi bị cắt bằng lửa hàn, và những đoạn cáp điện được bọc nhựa, muốn lấy được lõi phải đốt lớp nhựa bọc ngoài… Tất cả những thứ khí độc hại ấy, người làm công phải lĩnh đủ.  Vũ CôngTiến, đứa cháu tôi, kể: Lúc đầu, đã đeo khẩu trang kín cả miệng cả mũi mà cháu vẫn không chịu nổi cái mùi ấy. Làm được một lúc thấy mắt cay xè, chẩy nước dàn dụa. Tối về, người cứ váng vất như say rượu. Nhưng rồi dần dần cũng quen tất, bác ạ.Chả biết sau này thế nào, nhưng trước mắt, mỗi tháng gửi về cho vợ được bốn năm triệu, thì cứ làm cái đã.

Nghe nó nói mà tôi không khỏi rùng mình. Vì cuộc sống, không biết còn bao nhiêu người đã phải dấn thân dù “không biết sau này thế nào” như vậy.

TRẦN NINH THỤY

Đang được quan tâm

Gửi bình luận