Đường dây nóng : 0913.378.918

Văn hóa núi Đọ

Tôi hay nghe nói đến văn hóa Núi Đọ mà không hiểu nơi này ở vùng nào và có gì đặc biệt?
Tin bài khác

Di vật khảo cổ núi Đọ
* Tôi hay nghe nói đến văn hóa Núi Đọ mà không hiểu nơi này ở vùng nào và có gì đặc biệt?

Trịnh Thị Tâm, Mỏ Cày, Bến Tre

Núi Ðọ nằm bên hữu ngạn sông Chu, thuộc huyện Thiệu Hoá, Thanh Hóa. Núi Đọ nằm ngay ngã ba của ba xã: Thiệu Tân, Thiệu Vân, Thiệu Khánh, ngã ba của sông Chu, sông Mã, hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá. Cùng với núi Bàn A (Núi Vồm - Thiệu Khánh) - Cồn Chân Tiên (Thiệu Khánh) tạo ra thế chân kiềng vững chãi. Núi Ðọ được xem là nơi có nhiều vết tích về người cổ. Núi Ðọ còn được gọi là Qui Sơn, được ngợi ca là "Linh Quy Hí Thuỷ" (Rùa thiêng uống nước) là thắng cảnh trong Bàn A thập cảnh. Nhiều nhà khoa học xếp di chỉ Núi Đọ vào sơ kỳ đồ đá cũ, giai đoạn phát triển đầu tiên của loài người. Thời điểm kết thúc của giai đoạn này là cách đây khoảng 10.000 năm.

Theo thông tin trên mạng (samson.vn) thì Núi Ðọ chiếm không gian không lớn trong quần thể, nhưng có cấu tạo địa chất đặc biệt mà các núi khác xung quanh không có. Một đặc điểm rất dễ nhìn thấy của đá Núi Ðọ là cứng rắn sắc cạnh hơn nhiều lần các loại đá xung quanh như đá vôi, đá lớp. Cha ông ta đã biết điều đó từ rất sớm, nên đã sử dụng chúng làm công cụ lao động - Những chiếc mảnh tước, rìu tay... được lấy từ đá Núi Ðọ từng giúp cộng đồng duy trì và phát triển, vượt qua thời đại đồ đồng với nền văn hóa Ðông Sơn rực rỡ. Ðất Thiệu Hoá ôm trọn đôi bờ hạ lưu sông Chu.

Ði ngược thượng nguồn, các nhà khoa học đã phát hiện phần lớn lưu vực sông Chu nằm trong các khối đá mác-ma mà ta thường gọi là đá hoa cương, như những khối bê tông khổng lồ được cấu tạo từ những nguyên liệu hết sức bền vững, nhất là về mặt hoá học. Sông Chu núi Ðọ còn là huyền thoại của Thiệu Hoá. Khi đến địa phận núi Ðọ, sông Chu mềm mại đổi hướng về phía Bắc, âu yếm ôm lấy chân núi, tạo ra các bãi bồi tít tắp của xã Thiệu Nguyên và Thiệu Tân. Nhưng đến địa phận núi Trịnh, núi Vồm, sông Chu lừng lững chảy thẳng giữa hai dãy núi để sớm được hoà vào sông Mã cùng đi đến biển Ðông.

* Xin cho biết thêm thông tin về dân tộc La Hú ở nước ta hiện nay?

Nguyễn Đông Thức, Hà Nội

Dân tộc La Hú còn có các tên gọi khác là Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Khả Quy, Cò Xung Xá, Kha Tà, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Dân số chỉ có khoảng 5.300 người, phần đông sống ở huyện Mường Tè, Lai Châu.

Theo nhà văn hóa Hữu Ngọc thì từ La Hú có nghĩa là khỏe như hổ và có liên quan đến hổ (săn bắn, nướng thịt hổ). Có thể hổ là tô-tem (vật tổ) của người La Hú. Tục thờ cúng tổ tiên đã có từ lâu nhưng chỉ cúng ma nhà (bố mẹ) mà thôi. Gia đình chỉ lập bàn thờ sau khi bố chết và do con trai đảm nhiệm. Trên bàn thờ đặt 4 ống nứa làm bát đựng cơm và nước chè khi cúng. Nhóm La Hú Trắng cúng ma nhà mỗi tháng một lần và vào 3 dịp tết trong năm. Kiêng cúng vào ngày bố mẹ chết. Có phong tục buộc cành cây con vào cột ma nhà, rồi buộc sợi chỉ kèm 9 lông gà (luộc 9 con khác nhau) để tổ tiên nhận được đường về.

Họ quan niệm có ba thế giới: thế giới người (đeo vỏ dao sau hông), thế giới người trời (đeo vỏ dao ở cổ) và thế giới dưới lòng đất (chỉ cao bằng gang tay). Ông Trời (Mỏ Ma) là vị thần tối cao. Mồng một Tết mọi nhà đều phải cúng Trời.

Bà mụ (Thò po a mạ) trông coi việc sinh tử. Ba ta có 6 vú ở ngực cho người bú và 7 vú ở lưng cho ma bú (!). Bà có cây đào, nếu xin được quả to thì đẻ con to khỏe. Bà phân định nghề nghiệp cho mọi người. Nghề cao quý nhất là thày cúng và thợ rèn. Các con vật và cây cối đều có hồn. Người có 12 hồn trong đó có một hồn chính.

Những hồn chính của người trong nhà tụ tập quanh bếp lửa, còn các hồn phụ đi lang thang (!), có khi quên đường về hoặc nhập vào muông thú làm cho con người mắc bệnh và phải lo cúng lễ (!)

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
GS.TS NGuyễn Lân Dũng
Bình luận Gửi phản hồi