Thứ bảy, 18/11/2017 04:23 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Về quê Tam Bành

05/11/2010, 13:55 (GMT+7)

Sự thực, Tam Bành là một nhân vật, có quê hương bản quán, có cha mẹ hẳn hoi, và hơn thế nữa, còn được các triều đại phong kiến phong thần, phong tước quận công.

Trong văn chương, người đầu tiên dùng chữ Tam Bành có lẽ là thi hào Nguyễn Du. Trong Truyện Kiều, trùm lầu xanh Tú Bà đã sai gã chồng hờ là giám sinh họ Mã “Đi mua người ở Bắc Kinh (tức nàng Kiều) đem về”. Đến kỹ viện rồi, cái nhà mụ “nhờn nhợt màu da” ấy đã dạy nàng: “Con lạy mẹ đây/ Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia”.

>> Quả đồi quái dị >> Sự tích diều... dái >> Miếu ông hay bị sét đánh, miếu bà thì không >> Cúng thịt chuột& câu chuyện ma rừng ma bản >> Tảng đá thèm ăn thịt & chiếc giếng chốc cạn, chốc đầy >> Kể chuyện dân gian

Và khi thấy Thúy Kiều hốt hoảng hỏi lại rằng Mã Giám Sinh bảo mua tôi về làm vợ lẽ. Dọc đường từ Bắc Kinh về, gã đã cướp mất “cái ngàn vàng” của tôi rồi, bây giờ sao lại bắt tôi gọi gã bằng cậu? Thì “Bấy giờ mới nổi Tam Bành mụ lên”. Từ đấy, Tam Bành trở thành một từ thông dụng để chỉ cơn giận, cơn ghen của đàn bà, thông dụng đến mức chẳng mấy ai truy nguyên nguồn gốc của nó nữa…

Nhưng sự thực, Tam Bành là một nhân vật, có quê hương bản quán, có cha mẹ hẳn hoi, và hơn thế nữa, còn được các triều đại phong kiến phong thần, phong tước quận công. Quê hương của Tam Bành, thời Hùng Vương là trang Đồng Mông huyện Bình Chương, thời phong kiến là xã Bảo Ngũ, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, đến triều Nguyễn thì Thiên Bản đổi thành Vụ Bản, nay là xóm Đồng, thôn Nhất, xã Quang Trung, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Khám thờ thần Tam Bành

Về xóm Đồng, chúng tôi được nghe hai chuyện về thần Tam Bành, do một số cụ già trong xóm kể. Chuyện thứ nhất là vào thời Hồng Đức (niên hiệu của vua Lê Thánh Tông), có người đàn bà ở xã Bảo Ngũ huyện Thiên Bản, trong một lần sinh nở, thay vì sinh một đứa bé như bình thường, đã sinh ra ba cái bọc da như ba cái túi. Mở túi thứ nhất, thấy bên trong có một chiếc sừng. Túi thứ hai lăn lóc một cái đầu (sỏ) và túi thứ ba chứa một…bó sắt.

Không biết có phải vì là quê hương của cái bó sắt ấy mà ngày nay gần như 100% số hộ của xóm Đồng tức xã Bảo Ngũ cũ, đều làm nghề rèn không. Người đàn bà sinh ra Sừng - Sỏ - Sắt ấy họ tên là gì, ông chồng bà ta họ tên gì. Hỏi, các cụ đều không trả lời được. Chỉ biết rằng sau khi sinh ba cái bọc, vợ chồng sợ quá, đem cả ba bọc chôn ở đầu làng. Nhưng từ đó, đủ các loại ma quái nổi lên quấy nhiễu dân gian, không một thầy chùa, thầy pháp nào trừ khử nổi.

 Cũng thời đó, trong xứ phát sinh rất nhiều trộm cướp khiến nhân dân khốn khổ, còn quan binh của triều đình thì bất lực, dù vua Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị vua anh minh. Thấy quân lính bó tay, nhà vua đành phải hạ chiếu cho tất cả các ma quái trong thiên hạ, ai quét sạch được kẻ trộm, giặc cướp trên cả nước, thì nhà vua sẽ phong cho chức “Âm Binh Đại Tướng Quân”. Một thời gian sau, nạn trộm cắp không còn. Các băng cướp chẳng ai đánh cũng tự tan.

Truy nguyên nguồn gốc, biết Sừng- Sỏ - Sắt đã hiển linh phù trợ, nhà vua giữ đúng lời hứa, phong cho Sừng - Sỏ - Sắt là “Tam Danh Đại Tướng Âm Binh”. Về sau, dân gian gọi trại đi là Tam Bành Thần Tướng. Không bỏ lỡ thời cơ, các thầy phù thủy chuyên trừ ma tróc quỷ trước đây đều thờ Tam Bành làm tổ sư của “nghề” này…

Chuyện thứ hai, cũng do một số cụ già trong xóm Đồng kể, thì Tam Bành là con vua Hùng Thuận Vương. Nhà vua hiếm hoi, một lần đến trang Đồng Mông huyện Bình Chương, thấy người con gái họ Bằng xinh đẹp, bèn lấy làm vợ. Một thời gian sau, Bằng phi có mang khiến nhà vua chứa chan hy vọng. Ngày 10 tháng 3 nàng mãn nguyệt khai hoa, sinh ra một cáI bọc. Mở bọc ra, trong có 3 đứa trẻ kỳ dị: Một đứa không có mặt, một đứa không tay và đứa thứ ba không có chỏm đầu. Cả 3 đều đã chết. 

Cụ Bùi Xuân Đính, 89 tuổi, một trong những người kể chuyện thần Tam Bành

Nhà vua rất buồn, biết là vận nhà Hùng sắp mất, bèn sai đem chôn ba đứa trẻ ở ba cái giếng thật sâu, một giếng ở Đồng Mông, một ở trang Đắc Thắng (nay là làng Đắc Lực, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản) và một ở đồng Cao xã Vân Cát (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản. Vân Cát cũng là quê hương của bà chúa Liễu Hạnh). Được 100 ngày, ba đứa trẻ biến hóa rất kỳ dị, làm nhiều điều ngỗ ngược, dân gian gọi là Tam Ranh (ba vị thần trẻ con)…

Thấy không thể nào kìm chế được, Thuận Vương phải về Đồng Mông thuyết phục các con rằng các con chính là được Thượng đế sai xuống trần gian để giúp đỡ chúng sinh, được Thượng đế đặt tên là Sừng - Sỏ - Sắt, vậy không nên quấy nhiễu, làm hại dân gian. Về phần mình, nhà vua phong tước cho các con là Nguyên Sừng Quận công Đỗ Phan tướng quân; Nguyên Sỏ Quận công Vị Thể tướng quân và Nguyên Sắt Quận công Trương Thỉ tướng quân. Tước thì như vậy, còn chức, thì nhà vua phong ba con là Tam Thế Độ, Tam Ranh đại tướng âm binh, cho chỉ huy các cô hồn trong thiên hạ để phù trợ, giúp đỡ dân lành.

Hai câu chuyện đều xuất phát từ một địa phương, do người địa phương kể, có nhiều chi tiết ngược nhau. Chúng tôi chưa đủ kiến thức để phân biệt đúng sai, thôi thì đành học theo cụ Khổng là “thuật nhi bất tác” (thuật lại một cách trung thực mà không sáng tác) vậy. 
Từ khi được phong tước và nhận chức, ba vị càng linh hiển. Thành Hoàng làng nào không phù trợ cho dân làng yên ổn làm ăn, trái lại còn nhũng nhiễu, bắt dân sửa lễ vật nhiều, tức là tham ô, vòi của đút, đều bị Tam Ranh đại tướng âm binh đánh đuổi. Hễ dân làng nào ra đình mà thấy bát hương thờ Thành Hoàng đổ lăn lóc trên bàn thờ thì biết ngay là Thành Hoàng đã bị tống cổ. Một số Thành Hoàng kiện Tam Ranh đại tướng âm binh lên trời. Nhận được đơn, Ngọc Hoàng Thượng Đế bèn “ra quyết định thụ lý vụ kiện”, và triệu cả nguyên đơn, bị đơn lên điện Linh Tiêu để phán xử.

Tại tòa, sau khi “thẩm vấn công khai” và nghe hai bên “tranh tụng”, Ngọc Hoàng Thượng đế tuyên án, bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, rằng Tam Danh thần tướng chính là Tam Bành, đã có công giúp đỡ Thượng đế trừ khử bọn thần dữ quỷ ác quấy nhiễu dân gian. Từ nay, cấm các Thành Hoàng quấy nhiễu, tham ô, vòi của đút của dân chúng. Ai còn giữ thói cũ, chỉ biết chén đẫy xôi gà của dân mà không biết làm việc tốt cho dân, sẽ tiếp tục bị Tam Bành đánh đuổi.

 Còn Tam Bành, cũng không được nổi giận làm điều ngỗ ngược, phải chịu sự kiềm chế của Đức Phật Như Lai, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, phải nghe lời dạy dỗ của Quỷ Cốc Tiên sinh, của Đồ Đàn Giáo chủ. Phán xử xong, Ngọc Hoàng cho cả hai bên nguyên, bị ra về… (Còn nữa)

VŨ HỮU SỰ

Đang được quan tâm

Gửi bình luận