Thứ tư, 22/11/2017 10:02 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Vì sao thuốc BVTV đổ xuống đồng quá nhiều?

18/01/2013, 09:23 (GMT+7)

PGS-TS Nguyễn Hồng Sơn - Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp lý giải với NNVN về tình trạng mấy năm gần đây số lượng thuốc BVTV đổ ra trên đồng ruộng của VN tăng hơn gấp đôi…

* Cộng đồng đang bị đầu độc!

PGS-TS Nguyễn Hồng Sơn - Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp (ảnh) lý giải với NNVN về tình trạng mấy năm gần đây số lượng thuốc BVTV đổ ra trên đồng ruộng của VN tăng hơn gấp đôi…

Ông có thể đưa ra vài con số để chứng minh luận điểm của mình?

Năm 2000 Việt Nam mới sử dụng 33.637 tấn thuốc BVTV nhưng năm 2005 đã sử dụng 51.764 tấn, năm 2008 sử dụng 105.900 tấn, từ năm 2010 đến những năm tiếp theo khoảng 72.600 tấn. Sự tăng đột biến lượng thuốc BVTV có nhiều nguyên nhân.

Về mặt khách quan, do nhu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ cây ngắn ngày sang cây dài ngày (cây ăn quả, cây công nghiệp) khiến thời gian quản lý dịch hại kéo dài ra, nhu cầu sử dụng thuốc cũng như số lần phun thuốc có xu hướng tăng.

Về nguyên nhân chủ quan, thứ nhất là do kiến thức hạn chế của người nông dân. Hiện nay lực lượng lao động trẻ, có kiến thức ở khu vực nông thôn bị thu hút bởi các nhà máy, xí nghiệp, dịch vụ nên chủ yếu làm nông là người có tuổi, khó tiếp thu kiến thức nên dễ xảy ra tình trạng lạm dụng thuốc BVTV, phun thuốc theo định kỳ để đảm bảo chắc ăn.

Thứ hai là công tác dự tính, dự báo và hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV yếu nên chưa phát hiện kịp thời sâu bệnh, phun thuốc không đúng lúc, không đúng lứa tuổi sâu thành ra hiệu quả giảm. Trong quy định về quản lý thuốc BVTV cũng chưa có quy định quản lý về hướng dẫn sử dụng mà chỉ quản lý về danh mục thuốc.

Thứ ba là có nhiều sản phẩm thương mại nhưng không có cách đặt tên thuốc cho phù hợp từ đó nông dân không biết lựa chọn sử dụng sao cho đúng. Họ không phân biệt được rõ các nhóm thuốc và công dụng của chúng nên thường sử dụng hỗn hợp nhiều loại thuốc.

Thứ tư là các khuyến cáo của những công ty thuốc BVTV rất khác nhau về hiệu quả bảo vệ, thậm chí trong danh mục thuốc, đối tượng đăng ký phòng trừ khác nhau cho cùng một hoạt chất nên “đánh đố” nông dân về công dụng thật.

Nhiều người cho rằng sở dĩ thuốc BVTV ở VN tràn ngập đồng ruộng là do giá của chúng quá rẻ?

Đúng, giá thuốc của chúng ta quá rẻ do khi nhập khẩu chỉ mất thuế VAT cùng thuế nhập như mọi mặt hàng khác. Giá thuốc của VN hiện trong nhóm rẻ nhất khu vực thậm chí còn rẻ hơn nhiều so với Trung Quốc - một nước xuất khẩu lớn thuốc BVTV vào nước ta (giá thuốc BVTV đến tay người nông dân TQ cao gấp 2,5- 3 lần ở VN).

Giá thuốc rẻ, công phun lại cao nên nông dân có xu hướng muốn mỗi lần phun dùng hỗn hợp của nhiều loại thuốc, phòng nhiều đối tượng cho ăn chắc thành ra lạm dụng, sử dụng lượng thuốc tăng lên. VN đang dùng chủ yếu các thuốc BVTV thuộc nhóm 3, nhóm 4 (nhóm ít độc), còn nhóm 2 tập trung chính là các thuốc trừ sâu.

Tiếp thị thuốc BVTV ở chợ nông thôn

Lượng tiêu thụ khổng lồ, nông dân dễ tính, liệu Việt Nam có trở thành thiên đường cho các công ty thuốc BVTV trong và ngoài nước?

Tôi nghĩ là không. Việc nông dân dùng quá nhiều thuốc BVTV ngoài nguyên nhân giá rẻ còn do hệ thống đại lý BVTV nhiều và tản mát. Do người sử dụng đông nhưng nhỏ lẻ lại hay mua chịu thành ra lắm rủi ro. Giá thuốc thấp dẫn đến lợi nhuận thấp, DN tìm đủ mọi cách tăng lượng bán để tăng doanh thu. Do có số lượng đông đảo các công ty thuốc BVTV, mức độ cạnh tranh quyết liệt làm giá bán thấp nhưng chất lượng lại khó kiểm soát...

Là một người nghiên cứu chuyên sâu về môi trường nông nghiệp, để ngăn chặn nạn sử dụng tràn lan thuốc BVTV, ông có những đề xuất gì?

Tôi có ba đề xuất.

Theo nhiều chuyên gia đánh giá, vật tư đầu vào ngành nông nghiệp cái gì rẻ cũng có lợi trừ mỗi thuốc BVTV. Các khuyến cáo của công ty thuốc BVTV chủ yếu nhằm mục đích bán hàng chứ không vì mục đích xã hội, môi trường, sức khỏe.

Thứ nhất phải nâng cao năng lực của người nông dân, trước hết xem xét lại cách tổ chức dịch vụ để giảm đầu mối sử dụng thuốc. Thay vì hàng triệu nông dân đang trực tiếp phun thuốc BVTV như hiện nay nên thay thế bằng lực lượng chuyên làm dịch vụ kiêm luôn bảo hiểm kết quả phòng trừ. Lực lượng này chuyên nghiệp nên sẽ dễ dàng đào tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc.

Thứ hai, cơ quan quản lý phải nghĩ ra cách đặt tên thuốc sao cho đỡ lộn xộn. Cùng một hoạt chất nên có tít đầu tố là từ chỉ hoạt chất còn phần sau đặt theo ý của các công ty. Cần khuyến cáo sử dụng thuốc theo nhóm đối tượng phòng trừ cho từng hoạt chất.

Thứ ba, về chính sách vĩ mô, nhà nước nên đánh thuế môi trường cho cả ba khâu sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV. Phải đưa giá thuốc BVTV lên để hạn chế sử dụng đồng thời có nguồn thu quay lại xử lý ô nhiễm môi trường, quản lý chất lượng nông sản.

Xin cảm ơn ông!

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận