Đường dây nóng : 091.352.8198

Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam: 55 năm xây dựng & phát triển

Hôm nay (12/11), Viện Khoa học Thủy lợi VN kỷ niệm 55 năm thành lập. 

Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam: 55 năm xây dựng  phát triển
Cống Ninh Quới (Bạc Liêu) xây dựng bằng công nghệ cống lắp ghép bằng cừ bê tông cốt thép dự ứng lực
Tin bài khác

Tiền thân là Học viện Thủy lợi - Điện lực được thành lập năm 1959. Sau 55 năm thành lập, Viện Khoa học Thủy lợi VN đã từng bước phát triển, lớn mạnh và có nhiều đóng góp về KH-CN quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

I. Các chặng đường lịch sử

Từ 1959 -1963:

Năm 1959, cùng với sự kiện thành lập Binh đoàn 559 “xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước", Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quyết định thành lập Học viện Thủy lợi - Điện lực.

Đến năm 1963, Viện Nghiên cứu Khoa học thủy lợi (KHTL) được thành lập và tách thành một đơn vị độc lập khỏi Học viện Thủy lợi - Điện lực, đặt nền tảng cho sự nghiệp phát triển KHTL gắn với SX khôi phục kinh tế miền Bắc.

Từ 1963 - 1975:

Viện Nghiên cứu KHTL mở rộng hoạt động nghiên cứu phục vụ SX và chiến đấu. Những năm 60, viện tập trung nghiên cứu, thí nghiệm về hàn khẩu đê chống lụt, chủ động đối phó với ném bom phá hoại đê điều mùa lũ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc; nghiên cứu về thủy nông, chống xói mòn đất, chỉnh trị sông, phục hồi tu sửa các công trình như đập Đô Lương, đập Đáy, Vân Cốc, xây mới thủy điện Thác Bà...

Đây là những công trình thủy lợi, thủy điện có quy mô lớn và kỹ thuật phức tạp nhất thời bấy giờ.

Từ 1975- 1990:

Sau ngày giải phóng miền Nam, cán bộ chủ chốt của viện tỏa đi các vùng khó khăn ở miền Trung, miền Nam, đặc biệt là vùng chua phèn, nhiễm mặn, ngập úng, hoang hóa ở ĐBSCL.

Năm 1978, Phân viện Nghiên cứu KHTL Nam bộ (Viện Nghiên cứu KHTL) ra đời, có nhiều nghiên cứu về cải tạo đất chua phèn, mặn, về xây dựng công trình cống, đập, đê, kè… trên nền đất yếu vùng ĐBSCL, góp phần quan trọng vào việc biến ĐBSCL thành vựa lúa và nguồn cung cấp thủy sản cho cả nước.

Năm 1990, Phân viện được nâng cấp thành Viện KHTL miền Nam.

Từ 1990 đến nay:

Ngày 10/5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập Viện KHTL VN trên cơ sở sáp nhập Viện KHTL và Viện KHTL miền Nam.

Viện KHTL VN được giao những chức năng, nhiệm vụ mới đặc biệt quan trọng. Hiện nay, viện có 17 đơn vị thành viên, trong đó có 3 ban chức năng; 3 viện vùng; 6 viện chuyên đề; 1 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia (đây là một trong 17 phòng thí nghiệm trọng điểm của cả nước); 3 trung tâm nghiên cứu và 1 Cty xây dựng & chuyển giao công nghệ thủy lợi.

Viện hiện có 1.150 cán bộ, trong đó 3 GS, 28 PGS, 1 TSKH, 75 TS và 353 thạc sỹ, còn lại là kỹ sư, cử nhân. Viện còn có những cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.

II. Một số kết quả nổi bật từ 1990 đến nay

Viện đã thực hiện hàng trăm đề tài, dự án khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước. Tỷ lệ đề tài, dự án có kết quả ứng dụng vào SX và đời sống là 40%, tỷ lệ thắng thầu chủ trì các đề tài dự án rất cao (trên 80%).

Với chủ trương của Đề án tái cơ cấu ngành NN-PTNT, Đề án tái cơ cấu ngành Thủy lợi đã được Bộ NN-PTNT phê duyệt tháng 4/2014. Theo đó, hoạt động KH-CN của viện đã tập trung một số hướng trọng tâm, bước đầu cho kết quả thiết thực, được đánh giá cao. Nổi bật là:

1. Nghiên cứu quy hoạch, khai thác bảo vệ tài nguyên nước

- Tính toán dự báo biến động nguồn nước sông Mê Kông ứng với các kịch bản sử dụng nước của các quốc gia thượng nguồn và kịch bản biến đổi khí hậu (BĐKH) - nước biển dâng, cung cấp thông tin về diện tích, thời gian lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu hụt phù sa trên đồng ruộng, diễn biến sạt lở, bồi lắng...

- Xây dựng hệ thống quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Hồng trong bối cảnh BĐKH; xây dựng quy trình điều tiết liên hồ chứa các hồ lớn thuộc lưu vực sông Hồng.

2. Lĩnh vực cấp nước

- Xây dựng, ứng dụng công nghệ dự báo, giám sát xâm nhập mặn vùng ĐBSH và ĐBSCL; xây dựng đề án “Giám sát tình trạng xâm nhập mặn hạ du trên các hệ thống sông” với phần mềm và chương trình tính toán diễn biến xâm nhập mặn 3 hệ thống sông chính là sông Hồng - Thái Bình, Vu Gia - Thu Bồn và sông Cửu Long.

- Nghiên cứu giải pháp cấp thoát nước cho một số loại hình nuôi tôm chính ở ĐBSCL; hệ thống xử lý chất thải cho trang trại nuôi tôm nước lợ; mô hình cấp nước ngọt cho vùng nuôi trồng thủy sản ven biển ĐBSCL...; công nghệ cấp - trữ nước cho vùng đất dốc, núi cao, biên giới, hải đảo như bơm thủy luân, bể chứa bê tông thành mỏng, lọc nước biển thành nước ngọt dùng năng lượng mặt trời..., công nghệ Nano xử lý nước nhiễm Asen, ô nhiễm sinh học tại những vùng ngập lụt; xử lý nước thải, rác thải cho nông thôn, làng nghề các tỉnh ĐBSH...

15-29-08_bom
Trạm bơm ly tâm hút sâu ứng dụng tại xã Cố Nghĩa (Lạc Thủy, Hòa Bình)

3. Lĩnh vực chỉnh trị sông, bảo vệ bờ biển, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai

- Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực sông biển và Phòng Thí nghiệm thủy lực của Viện (ở Bình Dương) đủ năng lực giải quyết hầu hết vấn đề phức tạp như dự báo xói lở, bồi lắng bờ sông bờ biển, giải pháp chỉnh trị khu vực xói lở trọng điểm trên sông Tiền, sông Hậu, sông Đồng Nai - Sài Gòn, các vùng cửa sông ven biển Hải Hậu - Nam Định, Thanh Hóa, Ninh Bình, cửa Thuận An, cửa Định An...

- Rà soát đê biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang và giải pháp nâng cấp trong điều kiện BĐKH, nước biển dâng; đã xây dựng xong bản đồ ngập lụt hạ du các lưu vực sông từ Thanh Hóa đến Phú Yên phục vụ điều hành mùa lũ năm 2014; xây dựng bản đồ ngập lụt, nước dâng do siêu bão cho một số tỉnh ven biển như Thanh Hóa, Quảng Bình, TT - Huế, ĐBSCL...

- Công nghệ gây bồi tạo bãi, trồng cây chắn sóng bảo vệ bờ, đê biển; khôi phục, trồng rừng ngập mặn các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Trà Vinh, Sóc Trăng và sẽ triển khai ở nhiều tỉnh ven biển ĐBSCL.

4. Tưới cho lúa và cây trồng cạn

Viện đã nghiên cứu công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn ở vùng khô hạn như Nam Trung bộ, Đông Nam bộ (thanh long, nho, chà là); tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa ở Đắk Lắk (cà phê của Tập đoàn Trung Nguyên); tưới cho mía ở Quảng Ngãi, Bình Dương; hoa và cà chua ở Sơn La, cây dược liệu ở Phú Thọ, cam Cao Phong - Hòa Bình; tưới tiết kiệm nước thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại hệ thống thuỷ lợi Cầu Sơn - Cấm Sơn, Bắc Giang...

5. Công nghệ xây dựng và bảo vệ công trình thuỷ lợi

Viện đã hoàn thiện hồ sơ trình Bộ NN-PTNT phê duyệt 30 tiến bộ kỹ thuật, trong đó có 11 tiến bộ kỹ thuật đã được công nhận, 14 tiến bộ kỹ thuật đã được Hội đồng Khoa học của Bộ thông qua, đã có trên 20 tiến bộ kỹ thuật công bố trên các tạp chí uy tín thế giới...

- Liên tục hoàn thiện công nghệ đập trụ đỡ, đập xà lan di động để xây dựng các công trình ngăn sông, ngăn mặn, giữ ngọt, chống úng ngập cho các thành phố lớn, làm lợi cho nhà nước hàng ngàn tỷ đồng; công nghệ cống lắp ghép bằng bê tông cốt thép dự ứng lực ứng dụng thi công tại 18 công trình ở Kiên Giang, Cà Mau, hiện đang chuẩn bị xây dựng trên 20 công trình khác ở ĐBSCL; công nghệ Jet-grouting xử lý thấm cho cống Tắc Giang - Hà Nam, công trình hồ Sông Bạc - Hà Giang...

- Nghiên cứu, làm chủ thiết kế, thi công đập bê tông đầm lăn, ứng dụng cho nhiều công trình như Định Bình, Sông Côn, Nước Trong...; công nghệ túi địa kỹ thuật, công nghệ Neoweb để xây dựng, sửa chữa đường giao thông nông thôn với kinh phí thấp; công nghệ phát hiện và xử lý ẩn họa đê sông và đập thủy lợi - thủy điện; xử lý mối cho đê, đập...

- Mô hình vật lý thí nghiệm thuỷ lực là thế mạnh của viện đã chỉ ra nhiều bất cập trong các đồ án thiết kế, vận hành, giúp tiết kiệm cho nhà nước hàng nghìn tỉ đồng, tiêu biểu như hồ Ea Rơk, tràn Đá Hàn, thủy điện hạ Sesan 2 - Campuchia, Bản Chát - Lai Châu, hồ Tả Trạch, Ngàn Trươi, Bản Mồng...

6. Thiết bị cơ điện chuyên dùng thủy lợi

- Làm chủ thiết kế, chế tạo các loại bơm công suất lớn, cột nước thấp phục vụ chống ngập úng; nâng cấp, cải tạo trên 700 trạm bơm đã được xây dựng 50 - 60 năm trước trên hệ thống thuỷ nông đồng bằng Bắc Bộ...; chế tạo thành công bơm hút sâu ứng dụng cho vùng miền núi, trung du; ứng dụng giúp bơm nước biển xa hàng trăm mét, đảm bảo chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản.

- Nghiên cứu chế tạo thành công thiết bị vớt rác tự động cho các hệ thống bơm lớn với giá thành đầu tư chỉ bằng 40 - 50% so với nhập ngoại; nghiên cứu cửa van lớn phục vụ chống úng ngập cho TP.HCM, cửa van đóng mở cưỡng bức thay thế cửa van đóng mở tựu động để đảm bảo chủ động...

7. Lĩnh vực công nghệ thông tin, tự động hóa và phần mềm

 Nghiên cứu thành công công nghệ tổ hợp, chế tạo thiết bị, lắp đặt các trạm giám sát tự động (giám sát mực nước, độ mở cửa tràn, cửa cống, đo mưa, độ mặn…) và xây dựng các module phần mềm để tích hợp thành hệ thống thông tin quản lý, giám sát và hỗ trợ điều hành các công trình thủy lợi theo thời gian thực, giúp quản lý cơ sở dữ liệu hồ chứa, hệ thống công trình thủy lợi; dự báo lũ, dự báo ngập lụt vùng hạ du và hỗ trợ điều hành hồ chứa...

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
TS Nguyễn Vũ Việt
(Q. Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi VN)
Bình luận Gửi phản hồi