Đường dây nóng : 091.352.8198

Viện Thú y - 45 năm xây dựng và phát triển

Đúng ngày này (8/1) cách đây tròn 45 năm, Bộ Nông nghiệp đã ra quyết định số 02 NN-QĐ thành lập Viện Thú y ngày nay.
Tin bài khác

Đúng ngày này (8/1) cách đây tròn 45 năm, Bộ Nông nghiệp đã ra quyết định số 02 NN-QĐ thành lập Viện Thú y ngày nay. 

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ngành Thú y do Bộ Canh nông của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quản lý; cơ quan trung ương của ngành thực hiện nhiệm vụ chẩn đoán bệnh và chế vác xin cho các tỉnh Bắc Bộ. Sau đó, Chính phủ quyết định thành lập Viện kháng nhiễm Thú, Ngư.

Sau hòa bình lập lại, Phòng Thú y nằm trong Viện Khảo cứu Nông Lâm. Năm 1959, Viện sáp nhập vào trường ĐH Nông Lâm hình thành Học viện Nông Lâm.

Năm 1962, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam được thành lập, Bộ phận nghiên cứu của Khoa Chăn nuôi Thú y được tách ra khỏi trường và trở thành Ban Chăn nuôi Thú y của Viện Khoa học Nông nghiệp.

Ngày 08 tháng 1 năm 1969, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp ra quyết định số: 02 NN-QĐ tách Ban Thú y, thành lập Viện Thú y ngày nay.

Hiện nay, Viện Thú y có trụ sở chính đóng tại Hà Nội và các đơn vị trực thuộc gồm: Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Chuyển giao công nghệ Thú y, Xí nghiệp Thuốc thú y Trung ương và Phân viện Thú y miền Trung (Nha Trang, Khánh Hoà). 


VIỆN TRƯỞNG - PGS.TS. PHÙNG QUỐC CHƯỚNG

NHỮNG THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU KH-CN QUA CÁC THỜI KỲ

1. Giai đoạn trước 1975

Trước những năm 1980, là thời kỳ mở đầu khó khăn cho công tác nghiên cứu khoa học, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu, Viện đã đạt được một số thành tựu quan trọng như: Các đề tài nghiên cứu về vi rút gồm Dịch tả lợn, Newcastle, dịch tả vịt và nhiều loại vác xin mới được đưa vào SX sử dụng như Newcastle hệ I, Lasota, vác xin Dại Flury LEP... Lĩnh vực vi trùng đã phát triển được công nghệ SX vác xin đóng dấu lợn II, vác xin phòng bệnh do Leptospira gây ra... Viện cũng nghiên cứu nhiều đề tài về ký sinh trùng, đông y, xác định căn nguyên của nhiều bệnh mới.

2. Giai đoạn 1975 - 1998

Các đề tài nghiên cứu giai đoạn này đều nằm trong các chương trình nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước với sự phối hợp của nhiều cơ sở nghiên cứu và do Bộ NN-PTNT, Bộ KH-CN quản lý.

Một số nhiệm vụ đã được Viện triển khai có hiệu quả trong giai đoạn này gồm: Điều tra tình hình dịch bệnh, đặc biệt là bệnh LMLM, tụ huyết trùng, ký sinh trùng đường máu... trên gia súc; nghiên cứu áp dụng các phương pháp huyết thanh học mới như CATT, ELISA để chẩn đoán và điều tra bệnh, đề ra qui trình phòng trị bệnh cho đàn trâu bò ở các địa phương...

Đối với các bệnh trên lợn: Viện đã nghiên cứu cải tiến kỹ thuật SX và sử dụng thuật vác xin phòng chống các bệnh truyền nhiễm chính ở đàn lợn như dịch tả, tụ huyết trùng, đóng dấu, phó thương hàn...; nghiên cứu và điều trị thành công nhiều loại bệnh nguy hiểm liên quan đến đường hô hấp, hội chứng rối loạn sinh sản..., đồng thời SX nhiều loại vác xin mới phòng bệnh cho đàn lợn...

Đối với bệnh trên gia cầm, bệnh Nescastle giai đoạn này gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Viện đã đưa ra được lịch tiêm phòng kết hợp vác xin Lasota với vác xin Newcastle hệ 1 có hiệu quả, đồng thời nghiên cứu SX và ứng dụng thành công vác xin Newcastle chịu nhiệt...

Nhiều nghiên cứu dịch tễ, SX vác xin phòng bệnh mới trên gia súc gia cầm cũng đã tiến hành thành công đối với nhiều bệnh mới như Gumboro, Marek, bệnh Mycoplasmosis (CRD), bệnh cầu trùng (Coccidiosis)... Viện cũng nghiên cứu, SX nhiều loại vác xin phòng bệnh cho nhiều loại vật nuôi khác như vác xin chó dại; điều tra tình hình các dịch bệnh trên thủy sản...

3. Giai đoạn 1999-2004

Đây là giai đoạn nhiều loại dịch bệnh mới nguy hiểm trên gia súc, gia cầm bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, đặc biệt là bệnh “tai xanh” trên lợn (PRRS), cúm gia cầm...

Viện đã chủ trì thực hiện có hiệu quả nhiều đề tài cấp Nhà nước như: Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ SX vác xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm và ứng dụng kỹ thuật gen xác định type vi rút LMLM; Nghiên cứu ứng dụng công nghệ SX và sử dụng Kit chẩn đoán một số bệnh nguy hiểm ở vật nuôi. Viện đã chủ trì thực hiện 7 đề tài trọng điểm cấp Bộ và hàng năm, thực hiện 15- 17 đề tài thường xuyên. Trong khoảng thời gian này cũng là thời kỳ tăng cường hợp tác quốc tế và trong nước như: Dự án JICA - Viện Thú y, Dự án Bỉ - Viện Thú y, Dự án Úc - Viện Thú y, Dự án CIRAD - Viện Thú y, DANIDA...

Giai đoạn này, Viện tập trung nghiên cứu các loại vi rút dịch tả lợn, PRRS, cúm gia cầm; chế tạo thành công vác xin phòng bệnh phù đầu lợn do vi khuẩn E.coli... Nhiều thành tựu về lĩnh vực KH-CN, ký sinh trùng, vi trùng, vệ sinh thú y cũng đã được Viện nghiên cứu ứng dụng thành công như: áp dụng công nghệ máy li tâm siêu tốc, máy nhân - khuếch đại gen, máy phân tích kết quả PCR, máy giải mã trình tự ADN, máy ELISA... giúp công tác chẩn đoán, phân tích bệnh ngày càng chính xác, hiệu quả.

Đội ngũ cán bộ của Viện Thú y giai đoạn này có sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng trên nhiều lĩnh vực chuyên sâu và khó như: Siêu vi trùng, vi trùng, ký sinh trùng, miễn dịch, bệnh lý, sinh học phân tử và vệ sinh thú y.

4. Giai đoạn 2005 - 2014

Kể từ khi dịch cúm gia cầm (CGC) tại Việt Nam (2003), Hội chứng rối loại sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) năm 2008 và bệnh LMLM ở gia súc bùng phát, Viện đã tập trung nghiên cứu thiết lập cơ sở khoa học để phòng, chống bệnh.

Về Cúm gia cầm, Viện tập trung nhiều chương trình nghiên cứu dịch tễ, giám sát sự lưu hành các chủng vi rút CGC, đồng thời tiến hành nghiên cứu chế tạo vacxin CGC A/H5N1 vô hoạt bằng chủng phân lập tại Việt Nam.

Về Hội chứng PRRS, nổi bật có công trình Nghiên cứu mối liên quan giữa hội chúng rối loại hô hấp, sinh sản ở lợn (PRRS) với một số vi khuẩn gây bệnh kế phát và xác định biện pháp phòng, trị bệnh; đề xuất nghiên cứu SX văc xin nhược độc phòng Hội chứng PRRS ở lợn.

Về bệnh LMLM, các đề tài đã được thực hiện như: Nghiên cứu xác định sự lưu hành của virut LMLM ở Việt Nam; Khảo nghiệm vacxin LMLM nhị type (O và Asia1) trên vật nuôi...

Ngoài ra, Viện còn triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về vi khuẩn học, chế tạo thử nghiệm thành công vac xin đa giá phòng bệnh viêm phổi lợn, vác xin phòng bệnh tiêu chảy, phù đầu ở lợn, vac xin tụ huyết trùng gia cầm bằng vi khuẩn phân lập tại Việt Nam.

5. Thành tựu trong công tác hợp tác quốc tế

Viện đã thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế (HTQT), đào tạo cán bộ chuyên môn với nhiều nước và tổ chức trên thế giới như: Nhật Bản, Bỉ, Úc, Pháp, Nga, Hungary, Đức, Anh, Mỹ, Hàn Quốc..., với nhiều dự án đã được triển khai như dự án JICA-NIVR, dự án Bỉ - Viện Thú y, dự án Úc – Viện Thú y...

Trong 10 năm gần đây, Viện đã tham gia nhiều dự án HTQT lớn như: Dự án Nghiên cứu về hiệu quả của các biện pháp kiểm soát và phòng chống bệnh CGC ở một số nước có liên quan tại châu Á; Dự án Sinh thái và dịch tễ học của bệnh CGC ở các nước đang phát triển (GRIPAVI); Dự án Hiện trạng vệ sinh giết mổ gia cầm quy mô nhỏ tại một số nước đối tác Châu Á...

6. Công tác chuyển giao KH-CN

Bắt đầu từ cuối năm 2000, được sự giúp đỡ tích cực của JICA, hàng năm các chuyên gia JICA và Viện đã chuyển giao các công nghệ như: Chẩn đoán dịch tả lợn, chẩn đoán bệnh Tụ huyết trùng ở vật nuôi... Đồng thời được Bộ NN-PTNT giao thực hiện chương trình khuyến nông thú y trên địa bàn nhiều tỉnh trên cả nước…

Đây là chương trình có ý nghĩa lớn nhằm hướng dẫn cơ sở thực hiện mô hình an toàn dịch bệnh, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Viện cũng thực hiện công tác đào tạo cho mạng lưới thú y địa phương với hàng nghìn cán bộ thú y thuộc các trình độ khác nhau trên cả nước.

7. Thành tựu trong công tác đào tạo sau đại học

Từ năm 1992 đến 2004, Viện đã đào tạo và tổ chức bảo vệ thành công cấp Nhà nước cho 38 tiến sĩ nông nghiệp chuyên ngành thú y. Viện còn tham gia công tác đào tạo thạc sĩ thú y với Viện KH-KT Nông nghiệp Việt Nam và nhiều trường đại học trong cả nước

Đến nay, Viện Thú y đã đào tạo được 75 tiến sĩ các chuyên ngành Vi sinh học thú y, ký sinh trùng học thú y, Dịch tễ học Thú y. Hiện có 10 nghiên cứu sinh đang làm luận án tiến sĩ tại Viện.

Hiện tại, Viện Thú y (không kể các đơn vị trực thuộc) có đội ngũ 81 cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, trong đó có 4 Phó Giáo sư, 20 tiến sĩ, 16 thạc sĩ và nhiều tiến sĩ, thạc sĩ đang được đào tạo trong và ngoài nước. Đây là lực lượng cán bộ khoa học đáng tự hào cho xây dựng và phát triển Viện lâu dài.

Qua 45 năm lao động sáng tạo, với những đóng góp cho khoa học và SX, Viện Thú y đã được Đảng, Chính phủ và xã hội đánh giá cao, được Chủ tích Nước tặng: Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba. Năm 2005, Viện vinh dự được Chủ tịch Nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho tập thể các nhà khoa học Vi trùng học thú y, Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ cho tập thể các nhà khoa học Ký sinh trùng học thú y, Giải thưởng Kovalepxkaia cho tập thể cán bộ khoa học nữ của Viện.

Nhiều công trình khoa học khác tuy không nhận giải thưởng, nhưng cũng đã và đang lưu giữ trong các kỷ yếu, tạp chí khoa học là những tài liệu quý giá chỉ dẫn các hoạt động của ngành, giải quyết các vấn đề thực tiễn, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Nhìn lại chặng đường xây dựng và phát triển, Viện Thú y có đủ cơ sở để tự hào và tin tưởng rằng với nền tảng lịch sử hàng trăm năm của ngành Thú y Việt Nam, với những thành tựu quan trọng về nghiên cứu phục vụ sản xuất, phòng chống dịch bệnh ở động vật và đào tạo sau đại học đã đạt được, Viện Thú y sẽ ngày càng có nội lực mạnh mẽ hơn để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ NN-PTNT giao.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
pv
Bình luận Gửi phản hồi