Thứ ba, 17/07/2018 05:41 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Ân nghĩa làng quê

08/08/2011, 11:05 (GMT+7)

Làng này nhận làng kia làm anh em và quan hệ với nhau bằng những quy ước theo nghi lễ của tục kết chạ hết sức độc đáo. NNVN xin kể một số câu chuyện hết sức lạ lẫm tại những ngôi làng như thế.

Làng này nhận làng kia làm anh em và quan hệ với nhau bằng những quy ước theo nghi lễ của tục kết chạ hết sức độc đáo. NNVN xin kể một số câu chuyện hết sức lạ lẫm tại những ngôi làng như thế.

Con trâu trắng và lời chạ 400 năm

Cụ Ngô Văn Xuyên, pho sử sống làng Trâu Lỗ
Hơn 400 năm trước, con trâu làng Kim Thượng chạy lạc sang làng Trâu Lỗ. Sự việc tưởng chừng đơn giản ấy là sự khởi đầu cho mối lương duyên chẳng khác nào một lời nguyền.

Nghĩa Kim Trâu nặng tựa thái sơn

Làng Trâu Lỗ (xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) nằm bên bờ sông Cà Lồ hiện đang giữ một kỷ lục. Đó là ngôi làng có cây đa to nhất, già nhất tỉnh Bắc Giang. Các cụ cao niên ở làng khẳng định rằng cây đa ấy chắc chắn hơn 400 năm tuổi và nó là minh chứng mối lương duyên của ngôi làng này với làng Kim Thượng (xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội).

Đã bước qua tuổi 97 nhưng cụ Ngô Văn Xuyên chẳng mấy e ngại sự già nua của mình. Vẫn phăm phăm ra đồng thăm lúa, vẫn uống rượu đọc thơ chẳng hề chịu thua trai trẻ, đặc biệt trí nhớ cụ Xuyên thuộc loại miễn bàn. Người Trâu Lỗ gọi “pho sử sống” của làng bằng cái tên thành kính: Cụ Thượng. Cách gọi ấy một phần là để kính già, một phần nữa là vì cụ hiện đang làm “trưởng ban đối ngoại” với làng Kim Thượng, công việc cao quý nhất ở ngôi làng ẩn chứa lắm chuyện lạ lùng này.

Chuyện hai làng kết nghĩa với nhau ở đất Bắc Giang cụ Xuyên có nghe nhiều, nhưng để “sống chết với nhau” như ngôi làng cụ đang sống và Kim Thượng thì cụ già sắp tuổi bách niên nhất mực bảo đảm là chuyện hiếm: “Ai đời đều là những làng quê thuần nông nghèo như nhau nhưng chúng tôi có “thói quen” sẵn sàng hỗ trợ hàng trăm triệu đồng mỗi khi bên này hay bên kia có việc. Những chuyện ấy anh bảo có hiếm không, có lạ không”?

Và thực tế cụ Thượng làng Trâu Lỗ chẳng nói ngoa. Ví như con đường liên thôn Trâu Lỗ đấy, lúc khởi công, chẳng cần đánh tiếng gì nhưng hôm trước bắt tay làm thì hôm sau đã thấy các cụ bên Kim Thượng mang sang cả trăm triệu đồng kính cẩn: Dạ lạy anh. Nghe tin bên anh làm đường, thân em có chút tiền mọn gọi là góp công góp của để hỗ trợ anh cùng nhau ta xây dựng.

Không bắt buộc, chẳng quy định nào ghi rõ nhưng lâu dần thành lệ. Những công trình góp công góp của đều mang tên đúng với tinh thần hữu nghị bằng việc lấy từ đầu trong tên làng: Kim Trâu. “Vừa thể hiện tình cảm gắn bó keo sơn, vừa góp ích phát triển xã hội”. Cụ Xuyên phân trần.

Đấy là chuyện góp của, còn góp công cũng nhiệt tình chẳng kém. Độ hai chục năm trước làng Trâu Lỗ khởi công xây dựng đập thủy lợi lớn nhất xã. Biết tin mừng, dân Kim Thượng nhà này bảo nhà kia kéo nhau sang góp sức. Đến nỗi Bí thư Đảng ủy xã Kim Lũ lúc bấy giờ phải ra lệnh cấm người dân không được rời làng vì sợ ảnh hưởng đến năng suất sản xuất khi vụ mùa đang ở giai đoạn thu hoạch. Nhưng lệnh cấm chỉ có hiệu lực ban ngày. Đêm đến, hàng trăm trai tráng Kim Thượng vượt sông Cà Lồ mang theo lúa gạo sang Trâu Lỗ đào đất đắp đập. Giờ nghỉ, người người ngồi kín cả sân đình. Người nào việc nấy, đến lúc đắp xong đập họ mới cùng nhau trở về UBND xã để…chịu phạt.

Có đi có lại, những lúc Kim Thượng khó khăn, dân Trâu Lỗ cũng biết cách “biến việc người ta thành việc của mình”. Nghe tin “bên ấy” thiếu mạ giống, cụ Thượng làng họp mặt huy động mỗi suất đinh đóng 5 bó mạ chất lên thuyền chở sang. Hơn 400 hộ dân, mỗi hộ vài ba đinh nên chuyện thiếu mạ lúc nước sôi lửa bỏng trở thành chuyện nhỏ. “Bên ấy” mất mùa “bên này” cũng tất bật chạy đôn chạy đáo góp thóc sang chia sẻ.

Có một năm, cả hai làng đều bị thiên tai mất mùa. Bên nào cũng nghĩ bên kia đang khốn khó nhưng vì hoàn cảnh như nhau nên họ phải âm thầm đi vay mượn về cứu tế anh em kết nghĩa của mình. Nửa đêm thuyền chở lương thực làng này gặp làng kia đang đôn đáo ngay trên sông, chẳng ai nói với ai lời nào, họ cứ ôm nhau mà khóc. Tình cảm vì thế càng thêm sâu nặng.

Năm này qua năm khác, lúc tiền mặt, lúc hiện vật những việc ấy vừa là nghĩa vụ vừa là tình cảm, chẳng bên nào phải tính toán. Của cho không bằng cách cho, tiền của nhiều hay ít tuyệt nhiên chẳng có ý ban phát. Họ mang đến tận sân đình, thưa gửi tử tế rồi mới dám cho người mang đi sử dụng. Giá trị lớn hay nhỏ đều có như nhau cả.

Có lần, làng Trâu Lỗ còn hỗ trợ Kim Thượng hơn 300 triệu đồng để sửa sang đình chùa nhưng nghi lễ cũng chỉ như những lúc hỗ trợ thúng thóc, ngọn mía giống mà thôi. “Đóng góp việc này việc kia người ta có thể nấn ná, nhưng hễ có việc đến “làng kết nghĩa” chả ai nề hà. Đấy vừa là phong tục truyền thống, vừa là cái tình chúng tôi đối với nhau”. Cụ Xuyên lại phân trần.

Bản hương ước 5 điều

Lạ một điều, tình cảm keo sơn là thế nhưng người Trâu Lỗ và Kim Thượng sẽ bị phạt rất nặng nếu phát hiện bàn việc riêng tư với nhau. Điều này được quy định bằng một bản hương ước giữa hai làng và có hẳn một đội “thi hành án” sẵn sàng xử lý những người vi phạm. Thành thử có gặp nhau trên đường họ cũng chỉ gật đầu rồi ai đi lối nấy. Có việc gì muốn trao đổi xin mời các cụ ra sân đình đàng hoàng. Lạ lùng quá, nhưng tất cả đều có lý do.

Tương truyền, thời xa xưa, làng Kim Thượng mở hội tế thần linh bằng việc mổ một con trâu trắng to khỏe nhất để dâng lên Thành hoàng làng, cầu mong thành hoàng phù hộ cho dân làng được bình an vô sự, cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi nảy nở. Buổi lễ diễn ra long trọng nhưng đến lúc chuẩn bị kết thúc bỗng dưng con trâu trắng lồng lên quật đứt dây thừng rồi nhắm hướng mặt trời mà chạy. Trâu vượt qua sông Cà Lồ sang nằm phủ phục trước ngôi đền của làng Trâu Lỗ, nơi thờ Trương Hống và Trương Hát, hai vị anh hùng có công giúp Triệu Quang Phục đánh đuổi giặc Lương xâm lược.

 Bỗng dưng thấy con trâu trắng nằm trước cửa đền, người dân làng Trâu Lỗ cho đó là điềm thiêng, còn người dân Kim Thượng hốt hoảng vì sợ rằng “trâu mình vào làng người ta, họ không cho chuộc chẳng biết ăn nói sao với các cụ Thượng trong làng”. Bàn nhau mãi, cuối cùng họ phải trở về sắm lễ, mang tiền sang xin chuộc. Trái ngược với suy nghĩ làng Kim Thượng, dân làng Trâu Lỗ hết sức nhã nhặn: "Dạ thưa anh, người là vàng, của là ngãi, chúng em đâu dám nhận tiền chuộc".

Cảm kích trước hành động của dân làng Trâu Lỗ, dân làng Kim Thượng xin được kết chạ và nhận nhau làm anh em. Và cũng từ đó những quy ước ngặt nghèo ra đời mà mãi 400 năm sau hai làng vẫn theo lệ gặp nhau khi có việc chung. Một quy ước chẳng khác nào một lời nguyền. Lời nguyền khiến trai gái hai làng không thể nào đến được với nhau.

Cứ 6 năm hai làng lại tổ chức lễ kết chạ một lần. Theo quy định của các cụ thời xưa thì ngày lễ không được sớm hơn 6 giờ sáng và không muộn hơn 6 giờ tối. Buổi lễ được chuẩn bị một cách kĩ lưỡng và trang trọng, nghi thức linh đình, có kiệu, trống chiêng, các loại binh khí... giống như rước quan ngày xưa.

Sau này các cụ Thượng đổi mới bằng việc tổ chức những buổi thăm đồng, hỏi han tình hình sản xuất và học tập những mô hình kinh tế mới.

Lời nguyền này đích thân ông Ngô Quang Biện, một ông giáo về hưu hiện đang làm Bí thư chi bộ Trâu Lỗ xác nhận là có nhưng chưa hết. Lật cuốn sổ ghi chép việc làng, ông Biện nói giữa Trâu Lỗ và Kim Thượng còn có hẳn một hương ước quy định rõ 5 điều bắt buộc khi kết Chạ với nhau gồm: Giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn, trai gái hai làng không được lấy nhau, gặp nhau không được bàn việc riêng, dân nhập cư phải sau 3 đời mới được tham gia vào việc kết nghĩa, nếu vi phạm những điều này sẽ bị trục xuất khỏi làng.

Bản hương ước quy định 5 điều giữa hai làng chẳng biết thực hư đến đâu nhưng chuyện trai gái đúng là không được kết hôn thật. Năm ngoái, đứa con gái nhà bà Thuật ở Trâu Lỗ định gả về làng Lũ Hạ, một ngôi làng ở gần làng Kim Thượng. Sau khi tìm hiểu kỹ mới biết gia đình bên ấy cũng có gốc gác bên Kim Thượng nên đôi trai gái phải nhờ gia đình dò hỏi ý kiến hai làng xem thử thế nào rồi mới dám quyết định có tổ chức đám cưới hay không. Cuối cùng đôi trai gái ấy vẫn được các cụ cho phép đến với nhau nhưng hai làng quy định: Lễ tết họ chỉ được về thăm bố mẹ đẻ và không được tham dự việc làng.

Đó là trường hợp duy nhất hơi dính dáng đến quy ước của làng, còn lại ông Biện bảo rằng hơn 400 năm qua dân hai làng chưa hề có ai vi phạm cả. “Những quy định ấy suy cho cùng có phần cực đoan, nhưng lệ làng thế rồi. Các cụ cũng chỉ muốn dân hai làng xem nhau như ruột thịt, chỉ kết nghĩa tập thể vì họ sợ những mối quan hệ riêng tư làm ảnh hưởng đến truyền thống tốt đẹp giữa hai làng mà thôi”.

HOÀNG ANH

Đang được quan tâm

Gửi bình luận