Chủ nhật, 19/08/2018 09:08 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Chớ lạm dụng Atisô

30/05/2013, 10:28 (GMT+7)

Việc sử dụng sản phẩm “làm mát” này không đúng cũng khiến các cơ quan trên cơ thể, đặc biệt là gan, mật phải làm việc nhiều nên vô tình lại gây hại...

Atisô (tên khoa học Cynara scolymus) là loại cây là gai lâu năm có nguồn gốc từ miền Nam châu Âu (quanh Địa Trung Hải) đã được người Cổ Hy Lạp và Cổ La Mã trồng để lấy hoa làm rau ăn. Atisô có thể cao lên tới 1,5 đến 2 mét, lá cây dài từ 50 – 80 cm.

Hiện nay, người ta trồng atisô không những chỉ dùng lá bắc và đế hoa để ăn mà còn dùng làm thuốc. Atisô có tác dụng hạ cholesterol và urê trong máu, tạo mật, tăng tiết mật, lợi tiểu, thường được làm thuốc thông mật, thông tiểu tiện, chữa các chứng bệnh về gan, thận. Tuy chất cynarine đã tổng hợp được nhưng người ta vẫn dùng chế phẩm từ cao lá atisô tươi. Trên thế giới, biệt dược Chophytol của Hãng Rosa (Pháp) là thông dụng hơn cả.

Atisô là cây thuốc nguồn gốc Ðịa Trung Hải, được người Pháp di thực vào trồng ở Việt Nam từ hàng trăm năm nay ở các vùng có khí hậu ôn đới như Ðà Lạt (Lâm Ðồng), Sapa (Lào Cai), Tam Ðảo (Vĩnh Phúc). Ðến nay Actisô được phát triển trồng ở nhiều nơi, kể cả vùng đồng bằng như Hải Dương cây vẫn phát triển tốt.

Cụm hoa và lá bắc có phần gốc nạc, thường được dùng làm rau ăn và làm thuốc. Lá hái lúc cây sắp ra hoa hoặc mới ra hoa, dùng làm thuốc. Lá Atisô thu hái vào năm thứ nhất của thời kỳ sinh trưởng hoặc vào cuối mùa hoa. Khi cây trổ hoa thì hàm lượng hoạt chất giảm, vì vậy, thường hái lá trước khi cây ra hoa. Có tài liệu nêu là nên thu hái lá còn non vào lúc cây chưa ra hoa. Ở Đà Lạt, nhân dân thu hái lá vào thời kỳ trước tết Âm lịch 1 tháng.

Về tác dụng dược lý

Các nhà khoa học Pháp, Liên Xô cũ, Nhật và Thụy Sĩ đã chứng minh các tác dụng của Actisô cụ thể là: Tiêm tĩnh mạch dung dịch Actisô sau 2 - 3 giờ lượng mật bài tiết gấp 4 lần. Cho uống hoặc tiêm dung dịch Actisô làm hạ cholesterol và urê trong máu. Tăng lượng nước tiểu, tăng hàm lượng urê trong nước tiểu. Hoa Actisô có tác dụng giảm viêm, hạ cholesterol trong máu. Actisô không độc. Artichol tiêm và viên uống là sản phẩm tinh chế của Actisô.

Sau 30 năm có mặt trên thị trường Pháp * nay kiểm tra lại tác dụng dược lý và lâm sàng thấy không có tác dụng như dung dịch toàn phần Actisô đã thử nghiệm trước. (Vì vậy Pháp đã ngừng sản xuất Artichol).

Công dụng

Hoa và cụm lá bắc Actisô dùng làm rau ăn. Nấu canh hoặc hầm với xương lợn hay nấu với gan lợn, ăn rất bổ. Với bệnh nhân đái tháo đường có tác dụng hạ lượng đường trong máu, ngoài ra còn có tác dụng nhuận gan, nhuận tràng, lợi tiểu, giải độc. Lá Actisô (và các chế phẩm chiết suất toàn phần như cao lỏng, cao đặc, cao khô Actisô) có tác dụng lợi tiểu, tăng tiết mật, thông mật, hạ cholesterol máu. Bảo vệ gan chống độc (do sự có mặt của 6 chất trong nhóm polyphenol và 10 chất nhóm acid alcol cùng các flavonoid).

Tuy vậy, dù sao khi sử dụng nó làm thuốc bắt buộc phải có liều lượng và không được lạm dụng. Bởi ngay khi cơm ta ăn quá no cũng sẽ sinh bội thực hoặc ăn một bữa quá sang cũng dễ dẫn đến viêm tụy cấp. Do vậy, cần lưu ý khi sử dụng sao cho hợp lý, nếu không rất có thể xảy ra các nguy cơ như: Ăn uống ít đi, thậm chí chán ăn. Khi ngưng sử dụng thì mọi chuyện lại trở lại bình thường, ăn uống ngon miệng hơn. Có trường hợp lại thấy bụng lúc nào cũng căng trướng rất khó chịu. Đến bữa cơm chẳng muốn động vào món gì trong khi con mắt còn thèm, đó là những trường hợp lạm dụng thường xuyên kéo dài uống trà Atisô. Bởi nó sẽ gây co thắt toàn bộ cơ trơn của đường tiêu hóa. Đây chính là nguyên nhân gây đầy hơi, trướng bụng nếu sử dụng atisô quá nhiều.

Việc sử dụng sản phẩm “làm mát” này không đúng cũng khiến các cơ quan trên cơ thể, đặc biệt là gan, mật phải làm việc nhiều nên vô tình lại gây hại chứ không có tác dụng trị bệnh. Bên cạnh đó, atisô còn có tính hàn nên không thích hợp với người ăn uống khó tiêu hay gặp vấn đề về đường tiêu hóa. Mặt khác, atisô có công năng là thông mật lợi tiểu, bổ gan thận, an thần, giảm cholesteron trong máu nên thường được sử dụng để chữa các bệnh do rối loạn chức năng của gan như vàng da, viêm thận, xơ vữa động mạch… Tuy nhiên, nếu lạm dụng  atisô sẽ gây co thắt toàn bộ cơ trơn của đường tiêu hóa. Và đây là nguyên nhân gây đầy hơi, trướng bụng. Khi uống quá nhiều mà cơ thể không hấp thu hết thì gan, thận phải làm việc nhiều hơn để đào thải phần dư thừa. “Như vậy, cứ tưởng uống nhiều là tốt cho gan nhưng thực ra lại là hại”.

Mặt khác, trong trà atisô có chứa nhiều sắt nhưng lại thiếu các khoáng chất khác như kẽm, crom… Vì vậy, lạm dụng atisô có thể dẫn đến chán ăn, ăn không thấy ngon miệng. Tuy Atisô không độc, nhưng Atisô có vị đắng, theo Đông y, tỳ vị (dạ dày) thích vị ngọt chứ không thích vị đắng, vì vậy nếu dùng lâu ngày hoặc dùng lượng lớn sẽ có thể làm tổn hại dạ dày. Các nghiên cứu cho thấy, rất hiếm gặp trường hợp dị ứng với atisô, tuy nhiên nếu tiếp xúc thường xuyên với atisô đôi khi bị dị ứng. Đã có trường hợp nhạy cảm chéo với chất chrysantheme, arnica và pyrethrum (là những hoạt chất có trong atisô). Vì vậy dùng lượng lớn hoặc dùng thường xuyên là điều không nên.

Song bất luận là loại trà gì khi uống vào phải được gan chuyển hóa mới triển khai được tác dụng như mong muốn. Gan thậm chí phải làm việc đến hai lần vì hoạt chất nào cũng vậy, dù là hóa chất tổng hợp hay dẫn xuất từ nguồn gốc thiên nhiên, sau khi tác dụng đều phải được gan biến thể lần nữa thành dạng không độc cho cơ thể trước khi theo đường bài tiết, do đó ta lạm dụng atisô sẽ làm tăng gánh nặng cho gan.

Bởi vậy một ngày chỉ nên dùng 10 – 20g sắc với nước nếu dùng tươi, 5 – 10g nếu dùng khô. Với loại trà đóng gói, cũng chỉ uống 2 – 3 túi mỗi ngày là đủ.

B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI

Đang được quan tâm

Gửi bình luận