Thứ hai, 27/05/2019 02:25 GMT+7

Hotline: 036.902.4447

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Chuyện chưa kể về Bí thư 'mo cơm quả cà' Nguyễn Hữu Đợi: Kỳ 2 - Biệt tài chuyển hóa nghị quyết vào cuộc sống

14/05/2019, 08:55 (GMT+7)

Ông Nguyễn Hữu Đợi có biệt tài biến Nghị quyết của Đảng bộ huyện Quỳnh Lưu thành những khẩu hiệu chiến lược và khẩu hiệu hành động, thậm chí như ca dao, tục ngữ, như vè, như phương ngôn, đầy hình ảnh, đầy nhạc điệu, dễ thuộc dễ nhớ, dễ đi vào lòng người.

Do đó, người nông dân có ít chữ nhất cũng nhớ được, thuộc được và khi nhớ rồi, khi đã thuộc rồi thì họ làm bao giờ cũng đúng ý đảng.

Câu "Mo cơm, quả cà với tấm lòng cộng sản tiến lên chủ nghĩa xã hội" nếu ta là nhà lí luận ta phải dùng đến 500 trang sách để diễn giải nội hàm của mệnh đề đó. Như mo cơm quả cà ta phải nói đến hết cả hai giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại, về việc giành chính quyền, về hai cuộc chiến tranh chống xâm lược. Lại nói về thế nào là cộng sản và tấm lòng cộng sản.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ 3 phải qua) cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Đợi (thứ nhất phải qua) thăm huyện Quỳnh Lưu – năm 1977

Và nữa, CNXH là gì, cũng phải hàng trăm cuốn sách. Nhưng với ông, nhà lí luận cách mạng, nhà canh nông, chỉ gói gọn trong một câu như câu ca 15 chữ. “Mo cơm quả cà và tấm lòng cộng sản, tiến lên chủ nghĩa xã hội” mà đi vào lòng người, ai cũng nhớ, ai cũng thuộc. Khi dân còn đói, thiếu gạo, ông đưa ra khẩu hiệu: “Có nước là có lúa, có đất là có màu, có người là có việc”.

Có thế thôi, giản dị, mạch lạc, nhưng người dân hiểu ra, có tí đất liền trồng thêm bụi mía, bụi rau, ruộng cao không trồng được lúa thì tát nước lên… Nếu để ý sẽ thấy, vài tháng sau khi câu khẩu hiệu ấy xuất hiện, cả huyện có thêm bao nhiêu rau, bao nhiêu sắn, bao nhiêu khoai lang, ngon thì chưa nói nhưng đói thì không ai còn bị đói.

Vụ mùa mất phải trông vào vụ đông xuân, chưa biết thiên nhiên còn giở trò gì nữa, ông Đợi liền đề ra khẩu hiệu: “Đông xuân này quyết tuyên chiến với thiên nhiên” hoặc “Trời làm mất, bắt đất phải bù”. Khổng tử nói: "Lập ngôn rồi mới lập nghiệp".

Tức là phàm muốn làm một việc gì, nhất là hoạt động chính trị, thì phải có chủ thuyết. Mục đích là để tập hợp nhiều người cùng làm. Muốn vậy người ta phải biết anh là ai, quan điểm thế nào, và cách làm của anh để đến đích ấy.

Tôi nghĩ, chính cái tài biện thuyết, nắm bắt tốt vấn đề và khái quát được bằng những khẩu hiệu hành động có sức mạnh của Nguyễn Hữu Đợi, là một trong những nhân tố đầu tiên, để ông thành công trong chỉ đạo điều hành. Đó là khi làm một việc gì lớn ông đều vắt óc suy nghĩ đề ra được một câu khẩu hiệu, nếu ông chưa nghĩ ra ông bắt cả ban thường vụ đều nghĩ. Thời đó đọc lên, người dân nghe như tiếng kèn xung trận.

Những ai đã từng sống ở đất Quỳnh Lưu thời đó thì biết cái đói, cái rét sát sườn từng nhà, từng ngõ ngách như thế nào. Bo bo cũng bán theo tem phiếu. Người dân phải ăn đến sắn, khoai lang non, củ mới bằng ngón tay. Có xã đã phải ăn rau khoai, lá sắn và rau má. Đói làm cho hợp tác xã lung lay, dân đòi chia ruộng để trồng cây gì cứu đói.

Dù vậy huyện vẫn không xa rời mục tiêu đưa Quỳnh Lưu tiến bước mạnh mẽ lên CNXH, ra nghị quyết về xây dựng thủy lợi, thủy nông đưa nước về từng cánh đồng, xây dựng làng mới trên núi, lấy đất cho sản xuất lớn, bên cạnh đó làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, vận động chị em đặt vòng tránh thai…

Nhà tuyên truyền chính sách bẩm sinh Nguyễn Hữu Đợi đã cụ thể hóa, hình ảnh hóa, ngạn ngữ hóa nghị quyết trừu tượng ấy thành 9 chữ đơn giản, dân dã, đầy cảm xúc, để cho mọi người dân dễ nhớ và dễ thực hiện. “Mạ vô sân, dân vô rú, đ... vô vòng”, mạ vô sân thì dễ hiểu, dân vô rú tức là sắp xếp lại giang san, đưa dân vô núi, lập làng mới.

Còn vế thứ ba là vận động sinh đẻ có kế hoạch, ba chữ thay cho hàng chục pho sách, mà khúc chiết, lôi cuốn, đầy cảm hứng mà cũng rất hài hước. Chủ trương nào, kế hoạch hay chính sách nào của Trung ương, của tỉnh hay của huyện, ông Đợi cũng có thể biến thành những khẩu hiệu đầy hình ảnh, đầy màu sắc và dễ nhớ.

Ông nguyễn Thế Trung, nguyên Phó Ban Dân vận Trung ương nói: “Bây giờ nghị quyết chồng lên nghị quyết. Muốn triển khai nó ra phải mất ít nhất dăm, sáu tháng, đọc bể đầu ra mới nhớ, thế mà ông Đợi vừa họp xong, có nghị quyết ông tóm lại ba việc then chốt kiểu như thế liền. Cách văn nghệ, nói trạng, dễ nhớ, dễ làm như vậy thật là tài tình, hiếm hoi”.

Đó là tài của ông Đợi, là phong cách lãnh đạo của ông Đợi, là đặc sắc của ông Đợi, không ai có và không ai làm được. Hô hào dân làm thủy lợi thì ông có “Mo cơm quả cà và tấm lòng cộng sản, toàn huyện chung tay xây dựng các công trình thủy lợi”, đưa lại cho người dân một tinh thần lạc quan cách mạng, tin tưởng ở sức mình.

Ngày ấy dân đi làm thủy lợi làm gì có mo cơm quả cà? Nói mo cơm cho oai thôi, chỉ có vài củ khoai hay củ sắn. Dân đi làm công trình thủy lợi Vực Mấu, đào kênh Bình Sơn, cải tạo đồng muối Quỳnh Thuận chỉ có bo bo và bí đỏ ăn thay cơm, ăn trừ bữa, đói nhưng không ai kêu. Chỉ có khoai và tấm lòng cộng sản. Ông muốn nói, không có tấm lòng ấy thì không có CNXH. Bác Hồ nói: "Không có việc gì khó/chỉ sợ lòng không bền/đào núi và lấp biển/quyết chí cũng làm nên”.

Và ông cha ta nói: "Thuận bè thuận bạn tát cạn bể đông" đó thôi. Ông Đợi khái quát trừu tượng sự đói nghèo lạc hậu bằng chi tiết mo cơm, quả cà rất hay. Nghèo gì hơn khi phải ăn cơm mo và thức ăn là cà muối mặn? Nếu không dùng ý chí thì dân Quỳnh Lưu làm sao đào nổi con kênh dài hàng cây số nghiêng đồng đổ nước ra sông như đã làm. Và treo nước trên ngọn cây của 86 hồ đập trong đó có hồ Vực Mấu để tưới ruộng?

Hình tượng “mo cơm quả cà tiến lên chủ nghĩa xã hội” hàm nghĩa sâu sắc cả về thời đại và tính cách dân Nghệ, nó cũng là một biểu tượng Quỳnh Lưu đang "đặt một tay vào chủ nghĩa xã hội”.

Trong hoàn cảnh đất nước ta vừa mới thống nhất, lòng dân rất phấn khởi, nhưng vẫn còn nhiều luồng suy nghĩ: hoặc quá lạc quan tếu, ru ngủ trên hào quang chiến thắng của người anh hùng vừa đánh tan ngoại xâm hùng mạnh, hoặc bi quan chán nản, vì bởi sau ba mươi năm đổ máu hy sinh hóa ra vẫn nghèo nàn, túng quẫn, loay hoay, chưa thật tin vào đường ra. Trong hoàn cảnh ấy thì tinh thần của Đảng bộ và nhân dân Quỳnh Lưu chẳng những làm cho vùng đất này chuyển động mà còn những người khách đi qua cũng hăng hái lây, lòng đầy khâm phục kính trọng.

Tổng bí thư Lê Duẩn thăm đại công trường Vực Mấu.

Bí thư Nguyễn Hữu Đợi vốn là người hành động. Khi Thái Bình là tỉnh 5 tấn, ông Đợi đã cử một đoàn 24 cán bộ ra, xin làm xã viên gần năm, cùng ăn cùng ở trong gia đình nông dân, học làm giống lúa mới, học cấy ngửa tay, học làm bờ vùng bờ thửa, vân vân… Ăn ở, làm việc như nông dân ở đó đúng 2 vụ thì về, khi về hợp tác xã Thái Bình trả công điểm cho họ bằng thóc giống.

Số thóc giống ấy chia về ba xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Hậu và Quỳnh Bá làm thí điểm. Xong một vụ, huyện mời lãnh đạo các xã khác trong huyện đến tận bờ ruộng tham quan, học hỏi cách gieo giống mới, cách chăm bón. Vụ sau cả huyện Quỳnh Lưu đạt 6 tấn/ha, vượt cả Thái Bình.

Cũng một lần đi Thái Bình, thấy đồng muối người ta ngon lành quá, ông Ðợi muốn cải tạo đồng muối Quỳnh Lưu một cách "hoành tráng" bằng cách san phẳng hết cồn mô, chia cắt, đắp đê, xây cống để chủ động nước ra vào.

Đặt vấn đề ai cũng thấy khó có thể vượt qua vì đang lúc chiến tranh, đồng vốn lại không có. Công việc phải huy động nhiều người, nhỡ máy bay đánh làm chết dân thì ai chịu? Ông Đợi muốn cho "có trên có dưới" đã trình lên các cấp có liên quan. Ủy ban tỉnh không đồng ý.

Ông Ðợi đang đêm đạp xe ngót trăm cây số lên gặp Bí thư Tỉnh ủy nơi sơ tán, nằn nì: "Thủ trưởng ơi, em muốn cải tạo đồng muối, xin ủy ban không cho. Anh đồng ý đi, em làm thành công rồi em báo cáo tỉnh sau".

Sau khi cân nhắc mọi nhẽ, Bí thư Tỉnh ủy lúc đó là ông Trương Kiện đành bảo: "Thôi, làm đi. Có gì cậu và tớ cùng chịu!". Khi bắt tay vào làm, thiếu nhân lực, ông đợi "tóe ra" cái cách huy động ngày nghỉ của học sinh cấp ba, đưa các cô cậu cùng tham gia. Thế là chúng tôi được nghỉ học hai ngày, vừa sướng khỏi ngồi lớp vừa được lao động tham gia công trường đông vui. Chúng tôi - những học sinh cấp 3 vinh dự được tham gia công cuộc "thay trời đổi đất" với cha anh.

Ông thường khuyên cán bộ, nhất là lớp cán bộ khoa học kỹ thuật, phải cụ thể và đi vào thực tế kẻo bị đánh lừa. Muốn vậy phải: “Tai nghe, mắt thấy, tay rờ, chân đạp”. Thật là một kinh nghiệm quý. Kinh nghiệm cho hay không ít cơ sở và người lao động làm dối, nói hay. Tình huống đó có dùng tay rờ mới nhận ra thật giả nếu không bị con mắt đánh lừa. Tương tự chân phải đạp mới biết cày bừa có kỹ càng hay bị tháo nước che lấp.

Nguyễn Hữu Đợi rất ghét nói nhiều, họp dài mà không hành động. Câu chuyện ông về họp với Đảng ủy xã Quỳnh Long là một lối nói điển hình. Cuộc họp cứ diễn ra đều đều, lê thê mà không có thông tin, không bàn cách thực hiện cho ra hồn. Ông ngủ gật. Khi ông tỉnh dậy, ông nói một câu chế giễu: "Tôi đã ngủ được một giấc rồi mà Đảng ủy vẫn chưa bàn được việc gì mới". Câu chuyện và lời nói này đã được một tạp chí đăng công khai.

Tác phong của ông là xắn quần, lội nước, gặp dân và gặp khó thì cùng tháo gỡ.

Tổng Kiểm toán Nhà nước Hồ Đức Phớc kể về lần gặp Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu Nguyễn Hữu Đợi năm xưa: “Có lần bác ấy kể với tôi là: Nhà cách Huyện ủy (cơ quan) chỉ mấy trăm mét. Chiều đến thấy khói nấu cơm bốc lên nghi ngút mà không dám về nhà mặc dù rất nhớ bữa cơm chiều quây quần bên vợ con, nhưng nghĩ anh em ở xa sẽ buồn hoặc bỏ về nên ở lại cơ quan với anh em".

Ông Hồ Phi Phục, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, người có thời gian dài sống và làm việc cùng Bí thư Đợi kể: “Ngày ấy công việc bộn bề quá. Người ta nói huyện Quỳnh Lưu như một đại công trường là không sai đâu. Nhất là giai đoạn huyện được Trung ương chọn xây dựng huyện điểm (giai đoạn sau 1975). Tôi thấy có những ngày Bí thư Đợi làm việc không sót một giờ nào”.

HỒ NGỌC QUANG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận