Thứ tư, 26/09/2018 02:30 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Giải pháp quản lý SX, tiêu thụ rau an toàn

21/12/2012, 10:34 (GMT+7)

Ngày 19/12, tại Hà Nội, Viện Chính sách & chiến lược phát triển NN-NT phối hợp với Tổ chức VECO Việt Nam tổ chức hội thảo “Quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đối với SXKD rau quả quy mô nhỏ”.

Ngày 19/12, tại Hà Nội, Viện Chính sách & chiến lược phát triển NN-NT phối hợp với Tổ chức VECO Việt Nam tổ chức hội thảo “Quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) đối với SXKD rau quả quy mô nhỏ”.  

Ông Đào Thế Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & phát triển Hệ thống nông nghiệp (Viện Khoa học NNVN) cho biết: “Nước ta SX được khoảng 12 triệu tấn rau/năm, trong đó tỷ lệ hộ SX rau quy mô nhỏ chiếm khoảng 80%. Việc SX thì thiếu đầu mối trong phân công quản lý ATTP; không thống nhất trong phân công quản lý ATTP ở cấp địa phương.

Đặc biệt, thiếu thể chế tổng thể nhằm quản lý ATTP; chưa mềm dẻo trong chứng nhận ATTP; các chế tài ban hành mới mang tính chữa cháy, thiếu bền vững... Đặc biệt, hệ thống văn bản quản lý ATTP đối với ngành hàng rau thiếu đến 2/3”.

Ông Lê Sơn Hà, Phó trưởng phòng Quản lý ATTP & môi trường (Cục BVTV) cho hay: Kết quả giám sát năm 2011 với 1.050 mẫu rau cải, rau muống và đậu đỗ thì phát hiện 106 mẫu (chiếm 10,1%) vượt mức dư lượng tối đa cho phép (MRLs). Riêng đậu đỗ có 29 mẫu có dư lượng vượt mức tối đa cho phép. Gần 90% số mẫu rau tươi đang lưu thông trên thị trường là an toàn. Nhóm rau ăn lá như rau muống, rau cải có nguy cơ có tồn dư thuốc BVTV vượt mức dư lượng tối đa cho phép cao hơn nhóm rau ăn quả, ăn củ.

Nguyên nhân dư lượng thuốc BVTV trong rau quả là do quy mô SX nhỏ, manh mún, trình độ canh tác của người dân vẫn còn bất cập tại hầu hết các vùng trồng rau; có nhiều loại rau được trồng trên một diện tích hẹp gây khó khăn cho việc kiểm tra.

Ngoài ra, nhiều người dân vẫn vi phạm trong quy định về sử dụng thuốc BVTV, sử dụng thuốc chưa đúng kỹ thuật. Lực lượng làm công tác ATTP trong ngành BVTV vẫn còn mỏng, thiếu phương tiện và nguồn lực cho việc thực hiện công tác quản lý đối với rau tươi tại vùng trồng và chợ đầu mối, vựa thu gom.

Không những thế, kinh phí cấp cho chương trình giám sát tồn dư thuốc BVTV còn hạn chế, đôi khi cấp muộn nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác giám sát. Chính quyền cơ sở và các hội nghề nghiệp, chính trị - xã hội chưa thực sự vào cuộc tham gia công tác kiểm tra giám sát.

Ông Hà kiến nghị: “Để nguồn rau bảo đảm thì cần tăng cường năng lực cho các cán bộ làm công tác ATTP nói chung và cho ngành BVTV nói riêng; đẩy mạnh mô hành giám sát cộng đồng trong SX và tiêu thụ rau an toàn. Chính quyền cơ sở cần chủ động hơn nữa trong việc giám sát việc kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV tại các vùng trồng rau trên địa bàn. Đặc biệt cần có sự phân cấp cho chính quyền cấp xã về công tác ATTP và đào tạo, tập huấn cho cán bộ địa phương về công tác quản lý thuốc BVTV và ATTP”.

ĐẮC THÀNH

Đang được quan tâm

Gửi bình luận