Thứ tư, 13/11/2019 09:51 GMT+7

Hotline: 036.902.4447

Giáo sư - Viện sĩ Phạm Huy Thông: Nhà trí thức uyên bác, tài hoa

01/06/2019, 13:10 (GMT+7)

Từ một thi nhân với tiếng thơ hùng tráng, chuyển lối rẽ sang nghiên cứu khoa học, Phạm Huy Thông thực sự là linh hồn của đề tài và của các Hội nghị Khoa học xã hội & Nhân văn.

Tiếng thơ hùng tráng vang vọng một thời

Tôi tìm đến ngôi nhà số 86 phố Hàng Bạc, Hà Nội. Di sản còn lại của một gia đình tư sản dân tộc yêu nước vẫn còn đây, nơi Phạm Huy Thông cất tiếng khóc chào đời rạng sáng ngày 20/11/1916. Ngôi nhà này đã là nơi Tiếng địch sông Ô ra đời, nơi Phạm Huy Thông viết Con voi già tặng cụ Phan Bội Châu; các tập thơ Tần Ngọc, Tây Thi và các kịch thơ: Tần Hồng Châu, Huyền Trân công chúa, Kinh Kha,… đều được khai sinh tại ngôi nhà này.

12-16-51_phm_huy_thong
GS.VS Phạm Huy Thông (1916-1988). Ảnh: Tư liệu gia đình.

Hoài Thanh - Hoài Chân trong công trình Thi nhân Việt Nam đã nhận định chưa bao giờ thi ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của thơ Huy Thông: “Hơi văn mà đến thế thực đã đến bực phi thường. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn đương chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mạnh”.

Bất ngờ rẽ ngang sang khoa học, từ biệt nàng thơ, năm 21 tuổi Phạm Huy Thông đỗ tốt nghiệp cử nhân luật và sang du học tại Pháp. Sau hai năm học, tốt nghiệp cử nhân sử, địa tại Trường Đại học Toulouse, năm 1939, Phạm Huy Thông lên Paris để tiếp tục theo chương trình trên đại học về sử, địa, luật, kinh tế chính trị học. Năm 26 tuổi Phạm Huy Thông đỗ tiến sĩ luật học và 28 tuổi ông lại lấy thêm bằng thạc sĩ sử - địa. Năm 31 tuổi, Tiến sĩ Phạm Huy Thông đã được phong Giáo sư, làm việc tại Trường Đông phương và giữ chức vụ Ủy viên Hội đồng Giáo dục tối cao của Pháp.  

Người thư kí của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp năm 1946

Tháng 4 năm 1946, đồng chí Phạm Văn Đồng, trên cương vị Phó Chủ tịch Quốc hội, dẫn đầu “Phái đoàn thiện chí” sang Pháp. Trước khi đoàn lên đường, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội Võ Nguyên Giáp đã giới thiệu với Phạm Văn Đồng về Phạm Huy Thông. Họ biết nhau từ những năm dạy trường tư thục tiến bộ Thăng Long (1937-1938) ở Hà Nội.

Trở sang lần thứ hai, để thương lượng với Chính phủ Pháp ở Hội nghị Fontainebleau, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đề nghị Phạm Huy Thông làm thư kí riêng cho Hồ Chủ tịch.

Chính trong thời gian vừa làm thư kí riêng của Hồ Chủ tịch vừa làm thư kí của Hội nghị Fontainebleau; hằng ngày phải tranh luận với đại biểu của Pháp để thảo ra một thông báo chung của Hội nghị cho báo chí; Phạm Huy Thông đã bị Hồ Chí Minh chinh phục. Trong hồi kí, ông viết: “Từ viết văn đến nhận thức, tôi đã học được nhiều. Tuy cần nói rõ, như mọi trí thức học dưới mái trường Pháp, tôi đâu dễ nghe ai khuyên nhủ! Nhưng với tình cảm sẵn có với Bác, với phấn khởi được sống bên Bác một thời gian, với cách nói năng ôn tồn và thấm sâu của Bác, tôi đã từng bước, từng bước sang một thế giới mới…”.  

Thủ lĩnh phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp

Từ bỏ vinh quang phú quý, Giáo sư Phạm Huy Thông dấn thân vào con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội. Đến cuối năm 1952, khi bị trục xuất về nước, Giáo sư Phạm Huy Thông đã nhiều năm cáng đáng trọng trách về mọi mặt dân, chính, đảng… của Hội Việt kiều yêu nước.

Ngày cuối cùng của tháng 3, mưa xuân Hà Nội như níu kéo cái lạnh gợi nhớ biết bao kỉ niệm, GS.TSKH.NGND Hoàng Xuân Sính kể lại cho người viết bài này những câu chuyện bà chứng kiến và được nghe kể lại về cố GS.VS Phạm Huy Thông cùng những nhà trí thức một thời ở Pháp.

Chỉ còn hai ngày nữa là đến Noel 1952, sau khi tiễn anh Võ Văn Lạc - Bí thư chi bộ Việt kiều yêu nước tỉnh Toulousse, bị trục xuất về nước theo quyết định của nhà cầm quyền Pháp. Về nhà, Hoàng Xuân Sính lại nghe tin anh Phạm Huy Thông đã bị chính quyền Pháp bắt và bị trục xuất về nước.

“Vậy là ngọn đuốc chỉ đường trong đêm tối mịt mù đối với trí thức Việt kiều yêu nước tại Pháp lại tiếp tục bị đàn áp. Tuy nhiên ánh sáng chỉ đường của các anh Trần Đức Thảo, Lê Văn Thiêm, Phạm Huy Thông vẫn rực sáng trong lòng những người ở lại”, GS Hoàng Xuân Sính kể.

12-16-51_phm_huy_thong_-_vien_si
GS Phạm Huy Thông nhận bằng Viện sĩ Hàn lâm. Ảnh: Tư liệu gia đình.

Sau khi Phạm Huy Thông bị bắt và bị trục xuất về nước anh em trí thức Việt kiều tiếc ngẩn ngơ. Họ cứ kể lại những mẩu chuyện về Phạm Huy Thông cho nhau. Những câu chuyện cứ thế lan truyền đã trở thành tấm gương để người sau tiếp nối người đi trước vững bước trên con đường cách mạng.

Thực dân Pháp đưa ông về quản chế ở Ô Cấp (Vũng Tàu), nhà lao Chí Hòa, rồi Bà Chiểu và trung tâm huấn chỉnh Biên Hòa. Từ chối lời mời ra làm Tổng trưởng giáo dục trong Chính phủ Nguyễn Văn Tâm, Giáo sư Phạm Huy Thông cùng luật sư Nguyễn Hữu Thọ sáng lập “Phong trào đòi hòa bình ở Đông Dương”... Một lần nữa, ông bị chính quyền Pháp - Ngụy bắt trục xuất ra khỏi Sài Gòn, bị giam tại Hải Phòng. Tháng 5-1955, Trung ương Đảng đã tổ chức giải thoát cho Giáo sư Phạm Huy Thông khỏi tay chính quyền ngụy.  

Nhà trí thức uyên bác, tài hoa

Sau khi được giải thoát khỏi nhà tù của ngụy quyền, Giáo sư Phạm Huy Thông được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm vừa được thành lập năm 1956.

Với nhiệm kì 11 năm làm Hiệu trưởng (1956 - 1967), lãnh đạo một nhà trường lớn, ông đã đưa Trường Đại học Sư phạm thành đơn vị tiên tiến xuất sắc trong ngành giáo dục. Vào đầu những năm 1960 Trường Đại học Sư phạm liên tục nhận được những phần thưởng cao quý của Nhà nước trao tặng: Huân chương Lao động hạng Ba (1961), Huân chương Lao động hạng Nhì (1962)…

Mặc dù bận rộn trong công tác quản lí, giáo sư Phạm Huy Thông vẫn dành thời gian cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Ông đã tổ chức lực lượng nghiên cứu, biên soạn giáo trình lịch sử thế giới...

Bộ giáo trình Lịch sử thế giới do Giáo sư Phạm Huy Thông tổ chức, hướng dẫn biên soạn được đánh giá là viên gạch đầu tiên đóng góp vào việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thế giới ở Việt Nam.

Năm 1967 Giáo sư Phạm Huy Thông được giao nhiệm vụ xây dựng Viện Khảo cổ học và sau đó là Tạp chí Khảo cổ học ra đời do Giáo sư làm Tổng biên tập. Là Viện trưởng đầu tiên, ông đã có 20 năm làm Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1968-1988) cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời.

GS.VS Phạm Huy Thông giữ nhiều cương vị lãnh đạo: Quyền Bí thư Đảng ủy Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư kí Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa II, III; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hoà Dân chủ Đức (1987). Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) dành cho cụm công trình nghiên cứu về khảo cổ học: Trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam, Hang Con Moong, và Hùng Vương dựng nước.
KIỀU MAI SƠN

Đang được quan tâm

Gửi bình luận