Thứ hai, 21/10/2019 02:32 GMT+7

Hotline: 036.902.4447

Hoa như nỗi nhớ

25/11/2017, 15:05 (GMT+7)

Vậy là đã gần mười năm, Vương Tùng Cương gắn bó với mảnh đất mà hàng năm, chi chít hoa dã quỳ nở chói chang, vàng rực, hoang hoải các triền đồi. Quê gốc ở Hưng Yên. Nhưng người bố anh theo thời cuộc, lên sinh sống và kết duyên với người phụ nữ làng Mật Ninh, Sen Hồ...

Tiếng là sinh ra và lớn lên ở đất Mật Ninh, coi đây là quê gốc, là nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nhưng trong con mắt người già ở cái làng cổ này, vẫn coi bố con anh là kẻ ngụ cư. Bố mẹ anh tích cóp làm ăn, mua được mảnh đất, dựng ngôi nhà ngói năm gian đường bệ, không thua kém người dân gốc, để con cái không bị mặc cảm người ngụ cư. Ấy rồi lớn lên, mấy anh em nhà anh lại không ở Mật Ninh, mà cùng bìu ríu đi thoát ly, chỉ để lại ông anh trưởng ở nhà hương khói bố mẹ tổ tiên. Dù rời làng Mật Ninh từ thời trẻ, nhưng Vương Tùng Cương vẫn luôn tâm niệm làng Mật Ninh là quê gốc của mình. Cái tâm lý này rất khó giải thích, nếu không phải là người quê Kinh Bắc.

08-37-29_trng_32
Nhà thơ Vương Tùng Cương

Học hết phổ thông, vào trường đại học. Vương Tùng Cương học khoa báo chí xuất bản. Đất nước những năm bom đạn liên miên, rồi khoác ba lô theo bạn bè ra trận, Vương Tùng Cương từng có ba năm trong quân ngũ. Xuất ngũ, anh về công tác tại Ty văn hóa Hà Bắc. Độ ấy, anh có gia đình khá điền viên. Chị Khánh vợ anh, vốn là cô diễn viên chèo, chuyển nghề, làm cán bộ cấp phát vật tư của Ty văn hóa. Mấy thứ vật tư nhì nhằng: giấy thếp, giấy đánh máy, ít hộp thuốc vẽ, bột màu, ít vải bạt làm pa-nô áp phích, dăm chục mét dây điện, mấy cái bóng đèn điện màu xanh đỏ để dành cho việc trang trí đường phố ngày lễ tết…ấy mà cũng bao anh cán bộ quèn, mấy văn nghệ sỹ còm của tỉnh phải nhờ vả, cậy cục. Đấy là thời bao cấp, cái gì cũng thiếu. Khi mọi người còn ở tập thể, vách liếp, vách cót, thì gia đình anh đã mua đất, xây nhà đổ hiên tây ở mặt ngõ nhỏ gần phố Nhà thờ.

Ông Lê Hồng Dương bấy giờ là trưởng Ty văn hóa, người có tầm nhìn xa trông rộng, phân công Vương Tùng Cương xuống làng Đông Hồ, bên kia sông Đuống, mở đợt phát động các nghệ nhân làng tranh in tranh điệp xuất khẩu sang Nhật. Chiến dịch xuất khẩu mấy vạn bức tranh điệp ở làng độ ấy, ngoài việc thu về khoản ngoại tệ đáng kể cho thôn xóm, nó còn có ý nghĩa lớn trong công tác quảng bá văn hóa truyền thống của vùng Kinh Bắc ra quốc tế.

Thời bao cấp, nghĩ lại, vất vả mà vui. Đến khi kinh tế khá hơn chút, anh đã tháo vát đổi được nhà từ trong ngõ ra ngoài phố nhỏ. Đời sống vẫn thiếu thốn, vẫn ăn dè hạt tiện, để nuôi hai con ăn học. Thấy con mình có năng khiếu nghệ thuât, anh chị thuê thày kèm cháu gái học hát, cháu trai học đàn ghi-ta. Tới khi hai con anh được về học ở Nhạc viện Hà Nội, niềm vui lớn vậy, mà chẳng kéo dài được bao. Cháu Khương, con trai đầu, học xuất sắc, từ hệ sơ cấp, lên hệ trung cấp, bộ môn ghi-ta. Cháu Vân, con gái, học khoa thanh nhạc. Đúng lúc cháu Khương đủ điểm đi học nước ngoài, thì tai nạn thảm khốc ập đến.

Cái tai nạn kinh hoàng, như định mệnh.. Mà đúng là định mệnh. Ngày cháu về chào bố mẹ để chuẩn bị đi học xa, cháu có đến thăm người bạn. Ngồi trong nhà bạn, chiếc ô tô mất phanh từ ngoài phố đâm thẳng vào nhà. Đám tang kinh hoàng, đầy hoa trắng. Những vạt áo học trò trong trắng dằng dặc tiễn cháu Khương. Chúng tôi ôm vai anh, không dám nói một lời nào. Sau cái chết tức tưởi của con trai, Vương Tùng Cương kéo gia đình về Hà Nội. Anh quyết định gấp gáp, dứt khoát, không một lăn tăn. Cho dù ngôi nhà mặt phố vừa tu sửa khang trang. Cho dù cái nơi công tác đang đà thuận tiện cho quyền vị và tiền bạc. Anh nói, mọi thứ không còn ý nghĩa nữa. Anh chuyển di vội vã như chạy trốn. Vì không đủ sức ở lại mảnh đất đầy hình ảnh kỷ niệm của người con trai mình.

Anh trở thành một con người khác. Nói năng lung tung, văng mạng, như mất hẳn con người công chức trầm tĩnh thưở nào. Ngày còn ở Bắc Giang, coi trọng và đam mê viết lách, anh đã in một phần tập thơ. Rồi việc hành chính sự vụ, rồi đời sống công chức tỉnh lẻ, rồi lo cơm áo gạo tiền, rồi cả chính anh thấy mình không đủ tài đi với con chữ, nên đã bỏ viết lách. Nhưng anh luôn thèm đọc các áng văn thơ bất hủ của nhân loại, của các đấng bậc văn tài nước mình. Anh tôn thờ và như không muốn, không dám bước tiếp vào thánh đường cao sang bất tận ấy. Thì cuộc đánh đổi môi trường sống mới, những con chữ lại như kéo anh, dựng anh, nhủ anh, vỗ về anh.

Phải sống. Phải tồn tại. Những câu thơ lại chập chờn trở về với anh khi nào không hay. “Hoa như đổ phẩm phía sau chùa”. Câu thơ chơi vơi, ám ảnh, vận vào đời anh khi nào không hay. Bao vui buồn. Bao hy vọng và thất vọng. Bao khuôn mặt gần xa khả kính. Rồi bao sự tầm thường chính ở cái khuôn mặt ấy, khi ở gần, khi giải mã ra, làm con người tinh thần Vương Tùng Cương càng hoang mang, càng dữ dằn, đa chiều, phức tạp.

Chỉ những người thật thân, thật gần, thật thể tất, mới hiểu anh. Số phận lại giáng những đòn chí mạng lên đầu anh. Chị Khánh, người vợ tao khang một thời lại bỏ anh ra đi, về nằm ở nghĩa trang quê Mật Ninh. Chị bị ung thư. Anh từng bế chị, cõng chị đi qua bao bệnh viện, để chữa bệnh cho chị. Nhưng chữa sao được mệnh trời. Anh thêm điên dại. Bất cần. Nói năng càng văng mạng. Anh như con thú tật nguyền.

Rồi anh có con với một người con gái. Trời cho anh. Chị cũng là nhà thơ. Đứa con gái có khuôn mặt tươi rói. Cháu thông minh và đáng yêu. Nhưng lại như định mệnh. Anh phải hứng chịu bao đắng cay với tình cảnh éo le này. Anh rất yêu con, nhất là đứa con bé bỏng trong cảnh ngộ éo le. Nhưng anh không được đến với nó. Tình yêu và thù hận. Không phải trong sách vở, mà là thực tế anh phải đối đầu. Anh phải cách ly nó, thăm thẳm xa nó, trong đầy thương nhớ.

Một thời, anh gặp người phụ nữ khác, mê vẽ, mê thơ. Họ muốn bỏ phố phường, lên sống ở vùng núi rừng Yên Thế. Họ đã mua mảnh đất ven bờ suối um tùm cây dại gần cát cứ của cụ Đề Thám. Họ mơ tưởng xây căn nhà nhà nhỏ xinh cheo leo bên sườn núi. Họ thuê người vần những tảng đá lớn về xếp quanh vườn. Chi họa sỹ và mê thơ, mơ ước trồng thật nhiều hoa hồng, hoa cúc, hoa lan, hoa mộc, hoa ngâu ven bờ suối. Trồng khắp vườn, trồng quanh các tảng đá lớn nhỏ. Vương Tùng Cương thì mơ tưởng thuê thợ khắc đá, khắc những câu thơ tuyệt tác của các bậc tiền nhân, của bè bạn lên các tảng đá quanh vườn. Cái khu vườn, cái trang trại, cái công viên hoa-đá-thơ ấy sẽ sống cùng rừng xanh, giữa tiếng suối reo, tiếng chim hót bốn mùa. Chị và anh mơ tưởng thế. Vì thế, có dạo, gặp nhà thơ nào, anh cũng hỏi có viết được câu thơ nào xuất sắc để khắc trên đá không? Bạn bè đọc thử anh nghe, anh bảo chưa được, anh cần những câu thơ hay hơn nữa. Có bạn bè cự lại, rằng ông có viết được câu thơ để đời chưa. Lúc ấy, Vương Tùng Cương mới sững người: “Tôi không viết được, không có tài viết được, thì mới yêu cầu các ông!”.

Lại buồn thay, số phận lại nện xuống đầu anh, ngườì con gái yêu anh, vì anh, mê vẽ, mơ làm vườn hoa-đá-thơ bên suối, lại bỏ anh ra đi, vì bạo bệnh. Trước đó, anh đã bìu ríu chị vào Nam ra Bắc tìm thầy tìm thuốc. Trong cuộc chạy trốn số phận, họ đã dừng chân bên hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt. Họ dựng túp lều gỗ ven hồ. Họ đã mua ngôi nhà xinh xẻo sơn màu trắng ở chân dốc con phố nhỏ, muốn lấy không gian và khí hậu mát lành nơi đây xoa dịu nỗi đau bệnh tật của chị. Chị vừa chữa bệnh, vừa vẽ. Vương Tùng Cương vừa sắc thuốc, vừa nhẩm đọc những câu thơ cổ kim để động viên chị. Họ đã thực sự vì nhau. Nhưng số phận không cho họ được ở bên nhau nữa. Ngày hấp hối, chị có tâm nguyện, khi hỏa táng, đem một phần tro cốt về chôn cất ở mảnh đất cố hương Thái Nguyên, một phần rải xuống hồ Tuyền Lâm.

Phải rất lâu, sau đám tang nặng nề của chị, tôi mới có dịp trở lại Đà Lạt. Thắp nén hương tưởng nhớ chị, rồi chúng tôi ra hồ Tuyền Lâm. Vương Tùng Cương không nói không rằng, buồn bã chỉ tay xuống hồ. Tôi cảm nhận tất cả. Chao ôi, kiếp người đến là ngắn ngủi và hư vô. Vậy là một phần xương thịt chị nằm lại ở đáy hồ sâu thẳm này ư? Ngày Vương Tùng Cương ra Bắc, mấy anh em chúng tôi đưa anh về thăm quê chị. Vùng đồi núi Thái Nguyên chi chít cỏ dại, hoa dại, ru một phần tro cốt người phụ nữ nhiều khát vọng. Tôi nhìn vội nét mặt Vương Tùng Cương khi ấy. Khuôn mặt đanh sắt lại. Nỗi đau không cất thành lời. Trong làn khói hương mỏng tang nơi nghĩa địa, tôi hình dung chị đang thở dốc vẽ nốt bức tranh màu vàng chói của hoa dã quỳ cuối mùa.

Cuộc đời riêng của Vương Tùng Cương lại như rơi vào ngõ cụt. Đà Lạt bốn mùa hoa, nhưng như chỉ riêng màu vàng ấy, đắng đót và day dưa của hoa dã quỳ dành cho anh, hợp với tâm khảm anh. Ngày trước, có người nói Đà Lạt, xứ buồn tới mức muốn nổi loạn. Mấy bận vào thăm, tôi thấy anh chỉ chơi loanh quanh với mấy anh em viết lách ngoài Bắc vào. Đã lang bạt nhiều nơi, đành chọn nơi đây làm chỗ dừng chân. Hình như nỗi đau riêng tư quá lớn, anh không viết được, mà quay ra đọc sách. Vương Tùng Cương bảo rằng, những năm tháng ở đấy, đọc mới thấm thía. Thấm thía hơn rất nhiều những năm trước đã đọc. Có lúc tôi toan kích anh. Rằng có viết được thơ hay? Như thưở nào anh hay kích chúng tôi. Nhưng tôi lại không nỡ nói. Thơ ca, có gì bí hiểm như trời cho!

08-37-29_trng_34

Ấy rồi một dịp, cách đây ba, bốn năm, Vương Tùng Cương ở Đà Lạt ra Hà Nội. Đúng sáng Hà Nội mưa như trút nước ngập đường ngập phố, anh gọi tôi đến gấp. Chiều ý anh, tôi khoác áo mưa phóng xe máy đến gặp. Đến nơi, nhìn tôi, anh liền đuổi tôi về. Anh cằn nhằn, rằng ăn vận lếch thếch nom như thằng xe ôm, thì đi cho hỏng việc. Nhưng rồi anh lại gọi giật tôi quay lại, nhờ đưa anh đi mua chút chè thuốc, rượu, bánh kẹo. Rồi anh nhảy tắc-xi đi tiếp. Trời ạ, thì ra anh đến trình diện nhà người bạn gái mới. Lúc lên xe tắc-xi mưa càng xối xả. Cái gạt nước trên kính xe tắc-xi gạt liên tục, cũng không cản nổi dòng nước mưa. Hình như anh thốt lên điều gì đó. Tôi không nghe rõ, mà tự giải, như là câu “đời mưa gió”!

Bây giờ, người con gái mà anh đến dạm ngõ ngày mưa trút nước ở Hà Nội năm ấy, đã ở cùng anh trong Đà Lạt. Tôi không có ý kể chuyện riêng của anh, mà chỉ muốn dẫn rằng, thơ vẫn luôn cứu anh. Thì ra, có nguyên do tuy mơ hồ, nhưng lại là cần thiết để người con gái gắn bó được với anh. Bởi chị biết anh là người làm thơ. Chả biết có đúng không, hay tôi suy luận thế. Thơ ca, với người này người nọ, dù chẳng ham thích hay hiểu biết mấy, nhưng họ như thể tất hiểu rằng, những người làm thơ, tính khí có thất thường mấy, thì cơ bản, họ vẫn là người tử tế. Vương Tùng Cương vẫn thi thoảng từ Đà Lạt gọi điện như quát tôi, có viết được cái gì ra hồn không? Cố viết cho ra hồn. Lại sa sả mắng mỏ rằng sống thế mà sống được à? Anh làm như cả trái đất này, chỉ riêng Đà Lạt, nơi anh ở, mới là nơi đáng sống. Biết tính anh, tôi chả buồn cãi vã làm gì. Ấy rồi tháng trước, anh điện thoại thúc tôi cuống cuồng đến một nhà xuất bản xin giấy phép cho anh in tập thơ. Tên sách gì mà mềm oặt. Nào “Miền sương gió” rồi thì “Lặng lẽ phố sương”.Tôi toan cự lại để trêu tức anh. Viết ra sao? Viết có ra hồn không? Nhưng tôi không nỡ nói. Vì tôi biết, thơ ca như trời cho, có phải lúc nào cũng đuổi bắt được. Có người cả đời cũng chả đuổi bắt được. Tôi chợt nhớ cái dáng anh quay mặt ngoắt đi ở bên hồ Xuân Hương buổi nào, để dấu đi sự yếu mềm. Và tôi hiểu thêm sự xung đột trong mỗi kiếp người.

VŨ TỪ TRANG (Kiến thức gia đình số 46)

Đang được quan tâm

Gửi bình luận