Thi sĩ của quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia

13/06/2019, 10:11 (GMT+7)

Khác với những nhà thơ mặc áo lính thời chống Pháp và chống Mỹ, những người lính tình nguyện trên đất bạn Campuchia như Phạm Sỹ Sáu có một giọng điệu mới mẻ hơn...

Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu tại mặt trận Campuchia mùa hè năm 1979!

Những người lính tình nguyện Việt Nam cuối cùng rời khỏi Campuchia đã hơn 20 năm rồi. Bom đạn, mất mát và kiêu hãnh một thời, vẫn còn in đậm trong ký ức của bao gã trai chất ngất gian lao và tự hào, mà Phạm Sỹ Sáu là một gương mặt được nhiều người nhắc đến nhờ những câu thơ ghi lại năm tháng khó quên đó.

Thơ Phạm Sỹ Sáu có thế mạnh ở khẩu khí, nếu đọc vang lên trước đám đông sẽ thăng hoa vẻ đẹp hào sảng và giục giã của những “bài hành tráng sĩ mới” rộn rã theo bước chân người lính trẻ: “Sông Dịch nào rộng bằng sông Mê – kông/ Sóng Mê-kông sao bằng sóng ở trong lòng/ Tráng sĩ chừ lên rừng biên giới/ Lá thư nhà thành nỗi chờ mong”.

Chính vì vậy, không chỉ có trường ca “Ra đi từ thành phố” mà hầu hết thơ Phạm Sỹ Sáu đều có đặc tính càng dài càng thú vị. Giống như vóc dáng đường bệ của tác giả, thơ Phạm Sỹ Sáu khá nở nang về câu chữ và chi tiết, nhất là khi muốn thể hiện sự chân thành.

Ví dụ, bài thơ “Điểm danh đồng đội” mộc mạc ngay cả lối xưng hô và chia sẻ: “Hãy sắp hàng vào cho tao điểm danh/ Những thằng lính ở miền xa rất trẻ/ Hãy sắp hàng vào để nghe tao kể/ Chuyện đánh nhau và chuyện… yêu nhau/  A! Có thằng nào còn mang băng trắng trên đầu/ Tiến một bước, nếu thấy còn chỗ trống/ Đừng băn khoăn nếu có thằng hy sinh và thằng… chạy trốn/ Còn lại tụi mình thì vẫn cứ thương nhau”.

Hoặc bài thơ “Gửi bạn bè làm xong nghĩa vụ” cũng đầy tếu táo: “Mai mày về với người yêu trong tay/ Hãy hôn giùm tao những nụ hôn đời lính/ Hãy nói giùm tao trong phút giây trầm tĩnh/ Rằng: cám ơn nàng đã yêu lính biên cương”.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam thế kỷ 20 thấy nặng trĩu ám ảnh chiến tranh. Thi ca dự phần vào số phận dân tộc và sản sinh hàng loạt nhà thơ mặc áo lính.

Khác với những nhà thơ mặc áo lính thời chống Pháp và chống Mỹ, những người lính tình nguyện trên đất bạn Campuchia như Phạm Sỹ Sáu có một giọng điệu mới mẻ hơn khi xuất hiện bằng một hình ảnh khác: “Có lớp lính vừa qua tuổi Đội viên, lông tơ còn trên mặt/ Còn làm nũng, giận hờn rất đỗi hồn nhiên/ Những đồng đội khi tham gia trận đánh đầu tiên/ Còn bật khóc khi thấy người bên cạnh mình ngã xuống/ Gặp con gái Campuchia cười, tay chân còn luống cuống”.

Tâm trạng chung thường gặp ở những câu thơ viết trên tuyến lửa là nhớ nhung, mong ngóng, phập phồng, chia ly. Muốn định vị một khuôn mặt thơ, Phạm Sỹ Sáu đã chọn được một tần số cảm xúc riêng: “Chúng tôi ở rừng như người ở chịu/ Mắc nợ thì nhiều mà trả được bao nhiêu”.

Cứ vin vào món “nợ” ấy, Phạm Sỹ Sáu bồn chồn viết những câu thơ vun vén hành trang đời mình, lúc “Ở phương này” lặng lẽ “Ở phương này mây từ hướng Nam. Chiều bay lên rừng mù sương lam. Đêm anh ngồi gác trên hầm chốt. Thấy đất nước gần trong tay ôm”, và lúc “Mùa mưa đời lính đi qua” chầm chậm: “Rừng biên giới sâu vẫn vang tiếng cười. Mà nỗi nhớ cháy trong lòng lính trẻ. Mưa đã làm lành những con đường đất nẻ. Cho chúng tôi chân không bì bõm lội đi tuần”.

Có người từng hào hứng nhận định: Phạm Sỹ Sáu là một Phạm Tiến Duật của chiến trường Campuchia! Ngoài nung nấu giữ gìn khúc ca người lính, thơ Phạm Sỹ Sáu còn chất chứa nhiều suy tư “anh hiểu nhiều về bóng đêm, nên cần ngọn đèn soi tỏ”.

Đọc thơ Phạm Sỹ Sáu, luôn bắt gặp anh lính mê mải hát ca trên những vùng đồi rình rập hiểm nguy, nhưng đôi khi cũng nhìn thấy anh lính dằn vặt vì những được mất không của riêng mình: “Những người lính vào rừng tìm tượng Phật cho dân/ Máu vẫn đổ cho chuông chùa ngân vang trầm quyện”. Ở những góc khuất trống vắng, Phạm Sỹ Sáu thả những ý nghĩ bay thật xa giúp thơ anh có thêm chiều kích: “Cuộc sống nổi trôi với bao điều nghiệt ngã/ Dễ vượt qua hơn hiểu một nụ cười/ Đêm xôn xao khi tiếng súng vọng góc trời/ Trong bóng tối chợt thấy Bay-on cười rạng rỡ”.

Mặc áo lính năm 21 tuổi, từ khi nhập ngũ mùa xuân 1977 đến nay, Phạm Sỹ Sáu đã tích lũy được hàng trăm câu thơ ân nghĩa với đồng đội, với thời cuộc, nhưng dấu ấn của anh vẫn nằm ở mảng thơ viết trên xứ sở chùa tháp những ngày làm anh chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam: “Chắc đất nước Khơ-me từ nghìn xưa đã ấm no/  Nên hàng nghìn Áp-xa-ra trong đền không cô nào yếu ốm/ Bất chợt tôi nghĩ đến những nàng Hai, cô Tám/ Chỉ sống trong dân gian, không được ở đền đài/ Chưa có phù điêu tạc dáng những chàng trai/ Đi giữ nước mà trong lòng – nhớ nước/ Bao thế hệ hành quân ra phía trước/ Có thế hệ nào giữ- nước-từ-xa không/ Câu hỏi làm tôi thổn thức nỗi lòng/ Càng thổn thức khi đứng trước đền Ăng-ko-vát”.

LÊ THIẾU NHƠN