Thứ hai, 18/02/2019 01:03 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Tết về nhớ chuyện xếp hàng thời bao cấp

02/02/2019, 07:30 (GMT+7)

Sống ở Paris 30 năm, quen với việc xếp hàng hàng ngày - một yếu tố để đánh giá người văn minh - lịch sự ở nước tư bản, vậy mà cứ gần Tết Nguyên đán, tôi lại càng nhớ cảnh xếp hàng ở Hà Nội, nơi tôi được sinh ra lớn lên, trở thành giảng viên Đại học Sư phạm 1 trước khi tiếp tục du học và giảng dạy ở Pháp.

Những cái Tết quê nhà còn đủ đầy cha mẹ, quây quần bên anh em là phần ký ức quý báu của đời tôi.

ky-niem-tet-1154014969
Xếp hàng thời bao cấp

Lần đầu tiên tôi qua thế giới tư bản, cứ nghĩ ô tô hiếm như ở Việt Nam thời bao cấp, nên không có khái niệm xếp hàng. Vừa ra khỏi ga, tôi lấy ngay taxi trước mặt. Ông lái taxi bảo tôi: phải lấy cái đầu tiên, chúng tôi xếp hàng đón khách. Tôi cứ tưởng chỉ thế giới nghèo chiến tranh mới xếp hàng. Hóa ra bên Tây, mọi thứ đều xếp hàng.

Tất cả đều xếp hàng, dù chỉ hai người, kể cả hỏi thông tin. Nhưng là người thực việc thực. Một số nơi xếp hàng bằng số tự động. Họ gọi đến số, phải chìa số đó, không có ai là bỏ qua, gọi người khác tiếp, và người nào đã qua, đi loanh quanh quay lại trễ, thì phải lấy số từ đầu.

Xếp hàng trật tự là một nếp sống văn hóa đáng trân trọng. Riêng xếp hàng thời bao cấp ở Việt Nam là một bài học kỷ niệm không quên khác. Trong lớp tôi dạy tiếng Pháp cho người di cư mới, có một cô bé từ Hải Phòng sang Paris bằng đường bất hợp pháp. Tôi hỏi cô ta làm nghề gì ở Việt Nam, cô ta đáp: em làm nghề "xếp nốt". Tôi không hiểu là nghề gì, cô học trò đáp: em chuyên ra đứng xếp hàng bằng cách dùng gạch xếp "nốt", lấy chỗ rồi bán lại cho người cần mua hàng. Tôi đoán chắc xếp lượt, xếp lốt, cô ta nói tiếng Việt ngọng, không hiểu chữ lốt thành nói xếp nốp. Hóa ra xếp hàng cũng là một nghề thời bao cấp. Tôi đã thấy hàng dài viên gạch nhỏ trước cửa hàng thực phẩm, cửa hàng gạo trước giờ mở cửa. Dù đến sớm vẫn thấy dãy gạch đó, ai trả vài hào được lên trước, có khi chờ nửa buổi mới đến lượt. Ngày thường đã thế mua hàng Tết còn khổ hơn.

Sắm Tết thời bao cấp chủ yếu dựa vào các cửa hàng mậu dịch. Các cửa hàng được "trang hoàng" các tấm pa-nô, áp phích, trang trí cho có không khí ngày Tết

Hồi học xong lớp 6, kỳ nghỉ Hè sơ tán về nhà ở phố Bà Triệu - Hà Nội, lần đầu tiên mẹ sai đi xếp hàng mua mỡ nước. Mẹ đưa tôi cái hộp, tem - tiền mẹ để trong hộp nhôm đậy nắp kín. Mẹ bảo: Cứ đưa cô bán hàng là xong. Tôi đi rất sớm, nhìn đống gạch loằng ngoằng, nghĩ chẳng lẽ mình lại đứng sau đống gạch vụn xếp hàng. Tôi để cái hộp nhôm xuống theo thứ tự và chờ cửa hàng mở. Hai phút, đã thấy sau tôi rổ rá, nón rách xếp hàng. Cửa hàng vừa mở. Cô bán hàng đang sắp xếp đồ lên để chuẩn bị bán hàng. Tôi ngước lên cô, quan sát. Cô vừa bắt đầu làm việc, đống gạch lộn xộn có người nhận chỗ, tôi nhìn xuống toan ôm cái hộp nhôm đứng vào hàng, thì than ôi cái hộp đã biến mất nháy mắt. Nước mắt tuôn trào. Hai cô đứng cạnh hỏi tại sao, tôi mếu máo: "Cháu bị mất cái hộp tiền tem phiếu mẹ đưa". Mọi người nhìn tôi, lắc đầu: "Tội nghiệp, ngây thơ thế, ai lại sai con đi chợ ngớ ngẩn thế bao giờ". Nước mắt tôi chảy ròng ròng.

Sau hòa bình 1975, chế độ bao cấp vẫn tiếp tục. Tốt nghiệp Đại học Bucharest (Romania) về nước năm 1979, tôi thoát xếp hàng. Mẹ thuê người mua hộ. Hà Nội lại xuất hiện thêm dịch vụ xếp hàng mua hộ. Họ đưa hàng về tận gia đình. Nhà nước từng cấp tiêu chuẩn gạo nếp cho bố, rồi bị cắt nốt. Nhà toàn cán bộ, gạo ăn không hết. Mẹ lấy gạo mậu dịch đổi gạo mới, gạo nếp của nhà quê đem lên, vì bố đau dạ dày.

Mứt Tết và bánh chưng là 2 thứ không thể thiếu trong Tết cổ truyền của người Việt

Thời đó mọi thứ đều phân và chỉ cán bộ Nhà nước mới được hưởng chế độ ưu đãi này. Công đoàn nhận hàng cung cấp về phân phối lại cho cán bộ đỡ mất thời gian và cải thiện thêm. Một lần, tôi đang ngồi chỗ cửa hàng của mẹ, Bình - cậu bạn du học cùng làm Bộ Xây dựng gần nhà đi bộ qua, nói với mẹ tôi: "Bác ơi, cơ quan phân phối cá theo tem phiếu, cháu không mang theo, bác cắt số X, cháu vào lấy cho khỏi phải xếp hàng", mẹ đưa tiền tem X cho bạn tôi, 15 phút sau nhà có bữa cơm cá rán, mẹ mời Bình ở lại ăn trưa cho vui.

Một lần khác tôi được phân cái lốp xe đạp vành 650, xe tôi vành 680. Vừa treo lủng lẳng lốp xe ra khỏi cổng trường Sư phạm, tôi gặp anh Thành vừa du học về làm ở Viện Khoa học VN. Chúng tôi dừng xe đạp nói chuyện. Anh than: "Anh vừa mất xe đạp để ở Viện, trộm lọt vào viện cắt khóa…, phải mượn xe thằng bạn về". Tôi liền ủng hộ anh cái lốp. Anh mừng quá. Tôi nghĩ lốp mình không dùng được phải nhờ mẹ đem bán, bạn mình lại phải đi mua giá chợ trời cao ngất ngưởng. Thuốc lá được phân đều cho cả người không biết hút như tôi. Tôi đem tặng lại mấy tay giảng viên quen thân cùng trường, nghiện thuốc, ở khoa Toán Lý. Hàng phân phối không dùng được đem ra chợ đen bán giá cao lấy chênh lệch, như hình thức tăng lương.

Nước không có, chảy nhỏ giọt. Tối ngày cả khu xếp hàng chờ nước. Thùng chậu lổn nhổn các cỡ nối đuôi nhau. Cửa hàng sách cũng xếp hàng, cuốn nào dịch mới ra đều hết. Anh Nguyễn Huy Thắng bạn du học, mỗi lần thấy sách mới ra, cũng loay hoay mua tặng tôi một cuốn vì biết tôi cần sách. Sách thời đó ra khỏi cửa hàng có thể bán giá giấy vụn gấp đôi, để gói xôi, gói bánh… Từ điển biến thành giấy cuốn thuốc lá mang lại lợi nhuận hơn. Không phải sách nào đều được phép in, ai dịch cũng được in. Sách báo trở nên quý hiếm. Bố tôi mỗi sáng nhận được hai tờ báo, cả xóm mượn đọc. Bây giờ sách tràn ngập thị trường, tôi vẫn không quên người bạn tặng mình những cuốn sách đắt tiền thời khốn khổ. Giờ chúng tôi đều làm nghề cầm bút, thỉnh thoảng vẫn tặng nhau những cuốn sách mới ra lò như nhắc một thời xa xưa mãi mãi không quên.

Giờ đây nhớ thời bao cấp, xếp hàng, thời thiếu thốn đủ thứ chúng tôi bật cười khi nhắc lại kỷ niệm vui buồn xưa. Thời không có từ điển, không có điện thoại máy tính. Chúng tôi học miệt mài và chỉ biết học. Tiếc rằng thời ấy không có máy ảnh để chụp lại những hình ảnh xếp "lốt"  kỳ quái. Tấm ảnh duy nhất tôi sở hữu là nhờ lần đi chụp làm hộ chiếu với bạn cùng lớp. Bốn đứa chơi thân nhau, may mắn cùng được du học, ngớ ngẩn lúc chụp ảnh nộp hộ chiếu liều bỏ tiền chụp chung một chiếc kỷ niệm. Một thời tờ 20 USD, xe đạp trở thành tài sản quý hiếm. Mỗi lần về nước, du học sinh phải nộp lại hộ chiếu và đăng ký hộ khẩu để được phép cấp tem phiếu sổ gạo; nếu chưa được phân công công tác, lại đến Bộ gia hạn giấy tờ.

Bàn đổi tiền lẻ những ngày giáp Tết rất đông.

Năm 1982, tôi du học Bỉ, đi tàu hỏa từ Berlin qua Bruxelles. Bộ Giáo dục phải cấp phép tôi mới được mang tờ ngoại tệ 100 $ do Đại sứ quán Bỉ đưa để mua vé tàu và lấy taxi. Năm 1987, lúc tôi du học ở Paris, hải quan định giữ cái dây chuyền vàng tây một chỉ có tên tôi, do mẹ tặng. Tôi phải chạy ra cửa bỏ lại cho người bạn cầm về. Tôi mang theo duy nhất đồng xu 10 francs (tương đương 1,5 euros) do Lan Anh - cô bạn thân vừa từ Pháp về đưa để dùng gọi điện thoại cho trung tâm học bổng khi sang đến nơi. Chiếc áo dài được cấp trước khi đi cũng phải có giấy giới thiệu của Bộ Giáo dục để được vào cửa hàng giao tế mua. Trong cửa hàng giao tế, tất cả đều đòi giấy phép và cũng phải xếp hàng. Các cửa hàng dành cho cán bộ trung cao cấp Vân Hồ, Nhà thờ cũng đều xếp hàng, nhưng dễ mua hơn.

Một thời nghèo khổ chính là sức mạnh vô hình cho chúng tôi học để vươn lên trong cuộc sống. Một thời cha mẹ vất vả hy sinh cho con cái nên người. Một thời bạn bè yêu thương nhau chân tình giúp nhau không vụ lợi. Một thời nhớ mãi những tình cảm đáng quý, thiêng liêng.

TS. VĂN HỌC TRẦN THU DUNG (PARIS) (Kiến thức gia đình số tết)

Đang được quan tâm

Gửi bình luận