Chủ nhật, 27/05/2018 08:17 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Tổ chức Hợp tác dùng nước trong quản lý khai thác thủy lợi

11/09/2014, 09:34 (GMT+7)

Bài viết dưới đây đánh giá tổng quan về vai trò và thực trạng tổ chức, quy mô hoạt động của tổ chức này.

Tổ chức Hợp tác dùng nước trong quản lý khai thác thủy lợi
Kiên cố hóa kênh mương

Thực hiện chỉ đạo của Bộ NN-PTNT về việc khảo sát, đánh giá các mô hình kinh tế hợp tác trong lĩnh vực NN-PTNT làm cơ sở để đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách củng cố, phát triển các tổ chức kinh tế hợp tác hoạt động hiệu của bền vững, Tổng cục Thủy lợi đã triển khai khảo sát, đánh giá toàn diện (năm 2012) và chuyên sâu (năm 2014) về các mô hình Tổ chức Hợp tác dùng nước (HTDN) quản lý khai thác công trình thủy lợi.

Bài viết dưới đây đánh giá tổng quan về vai trò và thực trạng tổ chức, quy mô hoạt động của tổ chức này.

1. Vai trò của tổ chức HTDN trong quản lý KTCTTL

Hệ thống công trình thuỷ lợi là cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ đa mục tiêu, bao gồm cấp và thoát nước cho SXNN, thuỷ sản, dân sinh; đồng thời góp phần phòng chống giảm nhẹ thiên tai lũ, lụt, hạn hán, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển KT-XH.

Thực tiễn cho thấy thuỷ lợi là nền tảng để phát triển một nền SXNN có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Vì lý do đó, trong nhiều thập kỷ qua, Nhà nước và nhân dân đã tập trung đầu tư xây dựng và nâng cấp nhiều hệ thống công trình thủy lợi.

Quản lý KTCTTL là khâu quan trọng, quyết định đến hiệu quả công trình. Tổ chức quản lý, KTCTTL ở nước ta hiện nay bao gồm hai loại hình chính là Tổ chức của nhà nước (chủ yếu là doanh nghiệp) và Tổ chức HTDN. Các DN quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp.

Các công trình còn lại chủ yếu do Tổ chức HTDN quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ, độc lập hoặc kênh mương và công trình nội đồng thuộc các hệ thống lớn mà công trình đầu mối do các tổ chức nhà nước quản lý.

Sự tham gia quản lý khai thác của các Tổ chức HTDN góp phần quan trọng để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình thủy lợi.

Trong thời gian qua, Tổ chức HTDN trong phạm vi toàn quốc đã được các cấp, các ngành và một số địa phương củng cố, kiện toàn tạo điều kiện phát huy vai trò của người dân tham gia quản lý công trình thủy lợi theo chủ trương xã hội hóa công tác thủy lợi của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, công tác quản lý thủy nông cơ sở ở nhiều địa phương còn chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến hiệu quả hoạt động của nhiều Tổ chức HTDN còn kém hiệu quả.

2. Mô hình, số lượng Tổ chức HTDN

2.1. Mô hình

Theo kết quả khảo sát và báo cáo của các địa phương trên toàn quốc, Tổ chức HTDN thực hiện quản lý, vận hành công trình thủy lợi theo 2 mô hình sau:

a) Mô hình 1 (phụ thuộc): DN (Tổ chức HTDN) và người dân. Tổ chức HTDN quản lý công trình thủy lợi nội đồng gồm kênh mương và công trình trên kênh thuộc hệ thống lớn mà đầu mối và kênh chính do DN quản lý.

Tổ chức HTDN, đại diện cho người dùng nước, ký kết hợp đồng dịch vụ tưới, tiêu theo mùa vụ với DN và thực hiện quản lý, vận hành công trình và cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân.

Tổ chức HTDN thực hiện vai trò là cầu nối giữa người hưởng lợi với các DN trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi. Loại hình này chủ yếu phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng và một phần ở Bắc Trung bộ.

b) Mô hình 2 (độc lập): Tổ chức HTDN và người dân. Tổ chức HTDN trực tiếp quản lý công trình thủy lợi độc lập có quy mô nhỏ, vận hành toàn bộ hệ thống từ đầu mối đến mặt ruộng và thực hiện cung cấp dịch vụ tưới, tiêu cho người dân.

Loại hình này xuất hiện ở nhiều nơi nhưng chủ yếu phổ biến ở miền núi phía Bắc và một phần ở khu vực miền núi Bắc Trung bộ.

2.2. Loại hình và số lượng

Theo số liệu báo cáo năm 2012, cả nước có 16.238 Tổ chức HTDN bao gồm 3 loại hình chủ yếu là: (i) HTX có làm dịch vụ thủy lợi gồm HTX dịch vụ nông nghiệp và HTX chuyên khâu thủy nông, (ii) Tổ hợp tác gồm Hội sử dụng nước, Tổ hợp tác, tổ, đội thủy nông; và (iii) Ban quản lý thủy nông.

Trong đó, HTX và Tổ chức hợp tác là hai loại hình chính chiếm tới 90% tổng số Tổ chức HTDN. Số lượng từng loại hình cụ thể như sau:

a) Loại hình HTX, có 6.270 đơn vị, chiếm 39% tổng số Tổ chức HTDN. Trong đó, HTX dịch vụ nông nghiệp là loại hình phổ biến chiếm 95% số HTX. HTX chuyên khâu thủy nông, kể cả HTX nông nghiệp chỉ làm dịch vụ thủy lợi, chiếm khoảng 5%. Loại hình HTX làm dịch vụ thủy lợi phân bố hầu hết ở 7 vùng miền trong cả nước. Tuy nhiên, chủ yếu tập trung (82%) ở vùng đồng bằng sông Hồng (47%), Bắc Trung bộ (22%) và miền núi phía Bắc (12%).

b) Loại hình Tổ hợp tác quản lý KTCTTL có 8.341 đơn vị, chiếm 51%. Loại hình này phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc (40%) và đồng bằng sông Cửu Long (39%).

c) Ban quản lý thủy nông có 1.627 đơn vị, chiếm 10%, tập trung phần lớn ở vùng miền núi phía Bắc (54%) và Bắc Trung bộ (17%).

Số lượng Tổ chức HTDN tập trung nhiều nhất ở vùng miền núi phía Bắc (31%) tiếp đến là đồng bằng sông Cửu Long (23%) và đồng bằng sông Hồng (21%). Các vùng miền còn lại đều chiếm dưới 10%.

Ngoài DN và Tổ chức HTDN, ở một số địa phương, các công trình thủy lợi nhỏ, lẻ, kỹ thuật vận hành đơn giản, được các cơ quan giao cho cá nhân trực tiếp quản lý.

Mặt khác, do đặc thù SX và điều kiện địa hình phức tạp bị chia cắt, công trình nhỏ lẻ, người dân phải chủ động, tự lực trong việc lấy nước phục vụ SX. Loại hình này phổ biến ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền núi, Tây Nguyên.

3. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực

a) Tổ chức bộ máy

Các Tổ chức HTDN tiêu biểu được khảo sát đều có bộ máy tổ chức cơ bản giống nhau bao gồm Ban quản lý hoặc Ban quản trị và tổ (đội) thủy nông, vận hành công trình thủy lợi. Tuy nhiên, có sự khác biệt về nhân sự trong Ban quản lý và tổ thủy nông giữa các vùng, miền.

Ban quản lý của Tổ chức HTDN ở các vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long có 5 - 6 người, cao hơn mức bình quân cả nước (4 người).

Trừ vùng đồng bằng sông Hồng có số người trong Ban quản lý tương đương với mức trung bình của cả nước, các vùng còn lại đều tổ chức Ban quản lý gọn, nhẹ từ 2 - 3 người.

Về số lượng nhân viên thủy nông, trực tiếp quản lý, vận hành công trình, các Tổ chức HTDN vùng đồng bằng sông Hồng có số lượng người cao nhất (24 người) gần gấp đôi mức bình quân cả nước.

Tiếp đến là vùng duyên hải Nam Trung bộ và miền núi phía Bắc. Các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long bộ phận thủy nông viên tương đối ít, gồm từ 3 - 6 người.

b) Nguồn nhân lực

Theo số liệu báo cáo của các địa phương, đội ngũ cán bộ, nhân viên của các Tổ chức HTDN trên toàn quốc có 81.655 người trong đó nhân sự của loại hình HTX chiếm 45%, Tổ Hợp tác chiếm 47%, Ban quản lý chiếm 8%.

Đội ngũ cán bộ, nhân viên của các Tổ chức HTDN nhìn chung có tâm huyết và làm việc vì lợi ích cộng đồng và HTX. Tuy nhiên, đội ngũ chất lượng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu công tác với 83% số lượng cán bộ chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.

4. Quy mô và phạm vi phục vụ

Các tổ chức hợp tác dùng nước chủ yếu quản lý, vận hành và duy tu bảo dưỡng công trình thuỷ lợi nội đồng trong phạm vi xã. Một số ít được thành lập theo quy mô liên xã, tuy nhiên chủ yếu xuất hiện ở các dự án thí điểm từ nguồn vốn vay ODA.

Diện tích tưới tiêu bình quân cả năm từ hệ thống công trình thủy lợi do Tổ chức HTDN quản lý khoảng 420 ha. Các Tổ chức HTDN vùng duyên hải Nam Trung bộ có quy mô phục vụ tưới tiêu lớn nhất (720 ha) do phần lớn các diện tích được tưới tiêu đều canh tác 3 vụ.

Tiếp đến là các vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ với diện tích tưới tiêu của Tổ chức HTDN trên dưới 500 ha. Thấp nhất là vùng Bắc Trung bộ và Tây Nguyên với quy mô từ 230 - 280 ha.

Quy mô diện tích tưới tiêu do các Tổ chức HTDN phục vụ cũng tỷ lệ thuận với số lượng công trình thủy lợi đầu mối do tổ chức này quản lý.

Các Tổ chức HTDN ở duyên hải Nam Trung bộ quản lý nhiều nhất, bình quân 8 công trình, tiếp đến là đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ (từ 6 - 7 công trình). Các Tổ chức HTDN ở Bắc Trung bộ quản lý số lượng công trình ít nhất, trung bình 2 công trình.

TC

Đang được quan tâm

Gửi bình luận