Thứ năm, 13/12/2018 01:19 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Vài đối sách cân bằng cán cân thương mại Việt - Trung

26/11/2013, 10:14 (GMT+7)

Hàng công nghiệp khó có cơ hội cạnh tranh, XK khoáng sản về lâu dài không phải là giải pháp tốt. Nông sản vì thế đang gánh trọng trách trong mục tiêu cân bằng cán cân thương mại, khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam (VN) – Trung Quốc (TQ) sẽ lên tới 60 tỉ USD vào năm 2015.

* 7 mặt hàng nông sản lợi thế

Hàng công nghiệp khó có cơ hội cạnh tranh, XK khoáng sản về lâu dài không phải là giải pháp tốt. Nông sản vì thế đang gánh trọng trách trong mục tiêu cân bằng cán cân thương mại, khi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam (VN) – Trung Quốc (TQ) sẽ lên tới 60 tỉ USD vào năm 2015.

>> Khó cân bằng cán cân thương mại Việt - Trung

Vận hội, thách thức nào cho hàng nông sản VN ở thị trường TQ? Mặt hàng nông sản nào có tiềm năng, cần xem là mũi nhọn trong việc XK sang thị trường này? Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã chia sẻ với NNVN.

Trung Quốc - cơ hội của Việt Nam

Trước hết, phải khẳng định quan hệ giữa VN và TQ chủ yếu nhất vẫn về hoạt động thương mại, và TQ sẽ trở thành đối tác số một của VN trên thế giới. Sự phát triển của TQ ở một mặt nào đó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của kinh tế thế giới, cho khu vực, trong đó VN có cơ hội được hưởng lợi. Về kinh tế đối ngoại, TQ sẽ NK với kim ngạch 10 nghìn tỉ USD trong 5 năm tới (mỗi năm 2.000 tỉ USD). VN cần phải tranh thủ chớp lấy cơ hội này.

Thương mại giữa VN và TQ, hai bên hiện đã nhất trí năm 2015, kim ngạch thương mại hai chiều lên 60 tỉ USD, và tôi cho rằng chẳng mấy chốc nữa sẽ cán mốc 100 tỉ USD. Chủ trương của ta là sẽ từng bước cân bằng cán cân thương mại, thực tế, ta NK 50% tổng kim ngạch thì dễ, nhưng XK cho được 50% còn lại sang TQ là cả một vấn đề.

Đặc biệt năm 2015, VN buộc phải thực hiện AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), lúc đó hàng rào thuế quan sẽ bị phá bỏ hoàn toàn nên lợi thế so sánh về hàng nông sản XK của ta trong khu vực ASEAN sẽ không còn ý nghĩa. Cạnh tranh hàng hóa cả về chất lượng và giá cả sẽ vô cùng gay gắt.

Thủy sản là mặt hàng Việt Nam có lợi thế áp đảo khi XK sang Trung Quốc

Trong hoàn cảnh đó, ngoài một số ít mặt hàng nông sản có sự khác biệt, còn lại đa phần các mặt hàng nông sản của VN có thể nói khá đồng dạng so với các nước ĐNA. Điều này có nghĩa ngoài cạnh tranh chung với tất cả các nước trên thế giới, nông sản VN phải cạnh tranh trực tiếp với các nước ĐNA.

Trong cuộc cạnh tranh đó, bên cạnh rất nhiều thách thức thì về nông sản, nhìn toàn cục mà nói VN có lợi thế hơn cả so với 11 nước ĐNA ở thị trường TQ. Bởi chúng ta ở ngay cạnh nước có 1,3 tỉ dân, lợi thế giao thông rất lớn gồm cả đường bộ, đường thủy, đường không, đường sắt ta đều rất gần TQ.

Lào, Mianma có vị trí biên giới với TQ giống VN nhưng hàng hóa có mức độ. Khi hàng rào thuế quan hoàn toàn dỡ bỏ vào 2015, lợi thế về giá cước vận tải sẽ có vai trò mang tính quyết định tới lợi thế XK.

Quan điểm

Để nông sản có thể “cứu cánh” cho cán cân thương mại giữa VN và TQ, việc lựa chọn đối tượng nông sản nào là chủ lực để XK sang TQ là vấn đề mang tính chất chiến lược, quyết định sống còn, đòi hỏi các nhà lãnh đạo VN cần phải nhận định và có quyết định ngay từ lúc này.

Thế mạnh nông sản của VN trong cuộc cạnh tranh ở thị trường TQ là những gì? Rõ ràng, thị trường 1,3 tỉ dân như TQ cái gì cũng cần NK rất nhiều, nhưng theo tôi, tinh thần chung trước hết cần phải dựa vào hai quan điểm: Một là, cái gì TQ thiếu, ta sẽ chen vào, nhất là những thứ mà TQ đang càng ngày càng thiếu, chứ những thứ họ ngày càng tự túc được thì không nên chen vào.

Hai, những thứ gì mà VN khó đọ sức với các nước ĐNA cũng nên tránh. Ví dụ: có những mặt hàng TQ nhập khẩu từ ĐNA nhưng VN không có như cọ dầu (Indonesia, Malaisia, Thái Lan...); đậu tương thì TQ cần nhưng cả ĐNA cũng cần; cao su là mặt hàng đồng dạng, cả ĐNA đều mạnh nên không phải mặt hàng có lợi thế cạnh tranh của ta...

Thống kê của tôi cho thấy trong số 65 mặt hàng nông sản mà TQ nhập khẩu năm 2010, có hai mặt hàng mà VN sẽ không bao giờ đọ sức được ở thị trường này, đó là dầu ăn thực vật (dầu cải, cọ dầu, TQ nhập khẩu 7,2 tỉ USD) và nguyên liệu TĂCN có dầu (TQ nhập khẩu 26 tỉ USD). Còn lại, xin nêu một số mặt hàng nông sản cụ thể mà theo tôi có thể đóng vai trò chủ lực ở thị trường TQ như sau:

Một là cao su. Mặc dù chúng ta không có lợi thế cạnh tranh lớn trong ĐNA nhưng cạnh tranh mặt hàng này ở TQ cũng không gay gắt. Một triệu ha cao su của VN, chúng ta hoàn toàn yên tâm, cứ thế phát triển.

Hai là rau quả nhiệt đới, cần phải xác định là mặt hàng triển vọng mũi nhọn. Bởi đây là mặt hàng tươi sống, ta có lợi thế rất lớn về vị trí địa lí, giao thông như đã nói. Hiện mặt hàng này nhu cầu TQ đang cần rất lớn, thuế quan cũng đã bỏ, chỉ cần ta khắc phục được về hàng rào kỹ thuật mà TQ đặt ra nữa là yên tâm. TQ hiện phải NK rất lớn hoa quả như chuối, dứa, nhãn, vải, xoài, vú sữa, chôm chôm.

Rau quả nhiệt đới, mặt hàng cần đưa thành mũi nhọn để XK sang TQ

Về rau, có thể nói VN có lợi thế trời phú so với TQ mà ta chưa khai thác được. Chỉ cần chúng ta quy hoạch lại SX và chiến lược XK nữa là ổn. Các mặt hàng rau quả, mỗi loại chúng ta XK sang TQ hàng tỉ USD vẫn tiêu thụ hết. Bởi mỗi năm, dân số họ tăng tới 10 triệu người, 10 năm nữa họ tăng 100 triệu dân - bằng cả một nước lớn.

Ba là sắn khô, khoai lang khô và các sản phẩm từ sắn, khoai lang. Hiện nay, XK sắn 1,6 tỉ USD của VN chủ yếu sang TQ, và nhu cầu của họ về mặt hàng này như “thùng không đáy”. Bởi khoai, sắn phục vụ với mục đích rất đa năng ở thị trường TQ, từ làm tinh bột, xăng sinh học, cồn, bánh kẹo... Hiện chúng ta đã có giống khoai lang 50 – 70 tấn/ha/vụ, là cơ hội béo bở để XK tinh bột sang TQ.

Thứ tư là sữa và sản phẩm sữa, các nhà lãnh đạo VN cần phải có cái nhìn táo bạo hơn khi tiềm năng XK sữa sang TQ lớn khủng khiếp!

Năm 2005, TQ xuất khẩu 81 triệu USD, NK 460 triệu USD sữa và sản phẩm sữa, nhưng đến năm 2010, họ chỉ còn XK được chưa nổi 43 triệu USD, nhưng NK đã lên tới 1.970 triệu USD sản phẩm này.

Tôi đã để ý, trong số 65 mặt hàng nông sản thực phẩm mà TQ nhập khẩu năm 2010, không thấy mặt hàng nào TQ phải NK tăng khủng khiếp như vậy. Bởi nhu cầu họ quá lớn, khi tổng GDP của họ nâng lên tới 17.000 tỉ USD – tăng gấp đôi hiện nay thì không biết nhu cầu sữa của họ sẽ tới mức nào.

Trong khi đó, lợi thế của VN về ngành sữa là rất lớn, khi cả về điều kiện SX, sản lượng, kỹ thuật, kinh nghiệm, chất lượng lẫn giá cả... VN đang đứng đầu ĐNA, không nước nào ở ĐNA có thể cạnh tranh nổi. Về nhu cầu, tôi đánh đố TQ tự túc được nhu cầu sữa và các sản phẩm sữa. Về chất lượng, sữa TQ cũng không thể cạnh tranh được sữa VN. Đây là điều rất đáng tự hào, và là thời cơ mà VN cần phải nắm lấy.

Sản lượng sữa nước ta hiện mới chỉ 1,5 triệu tấn, và việc nâng giá trị XK sữa sang TQ lên 5 tỉ USD là điều hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay. Để thực hiện được mục tiêu ấy, VN chỉ cần xây dựng tổng cộng khoảng 10 DN như Vinamilk hay TH True Milk là hoàn toàn có thể SX được 5 triệu tấn sữa, VN dùng nội địa 2 triệu tấn, 3 triệu tấn còn lại, tương đương 3 tỉ USD đem XK sang TQ là hoàn toàn có thể thực hiện.

Ngoài ra, VN hoàn toàn có thể tạo đột phá mạnh mẽ, thậm chí nâng sản lượng sữa lên 10 triệu tấn là có khả năng bởi tiềm năng SX sữa của ta còn vô cùng lớn. Ngay cả sản phẩm của ngành bò sữa như thịt, da bò sữa cũng đều có tiềm năng XK sang TQ rất tốt. Vấn đề là các nhà lãnh đạo VN có mạnh dạn đầu tư vào SX sữa hay không.

Sản phẩm thứ năm, là đường ăn. TQ hiện đang rất gay go về nhu cầu đường. Năm 2004, TQ xuất khẩu 111 triệu USD đường, NK chỉ 38 triệu USD (XK gấp 3 lần NK). Thế nhưng đến năm 2010 thì lộn ngược hoàn toàn, họ XK chỉ có 64 triệu USD, nhưng phải NK tới 906 triệu USD. Điều này cho thấy TQ ngày càng thiếu đường nghiêm trọng.

Tôi khẳng định, nếu XK đường qua TQ, VN sẽ hơn hẳn Thái Lan. Bởi giá thành SX đường hiện VN chỉ thua Thái Lan chút xíu. Nếu khéo, ta hoàn toàn có thể cạnh tranh được trong tương lai gần. TQ hiện phải mua mía nguyên liệu của nông dân với giá gấp đôi VN nên giá thành SX đường của họ bao giờ cũng phải trên 20 nghìn đồng/kg, còn VN tối đa chỉ 16 nghìn đồng/kg là cùng nên sẽ không bao giờ có thể cạnh được so VN. Với hệ thống NM và kỹ thuật chế biến đường khá hiện đại, VN hoàn toàn có thể mua đường thô về tinh luyện trước khi XK sang TQ.

Về thủy sản, nhất là hải sản cũng là mặt hàng mà TQ sẽ luôn thiếu. Vùng tây nam TQ hiện thiếu thủy sản nghiêm trọng nên XK thủy sản vào vùng này không bao giờ đủ. Đây là sản phẩm cần phải đưa thành mặt hàng mũi nhọn bằng các chiến lược xây dựng nguyên liệu thật bài bản. Chất lượng hàng hải sản VN cũng không đến nỗi tồi, chỉ cần hoàn thiện về mặt hàng rào kỹ thuật là ổn.

Cuối cùng, là gỗ và sản phẩm gỗ, tôi khẳng định TQ sẽ vĩnh viễn thiếu, bất kể gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ dăm... TQ hiện nay đang cấm dùng sắt thép để làm cốp pha trong xây dựng nên nhu cầu gỗ của họ lại càng thiếu kinh khủng.

“Về gạo, mặc dù ta XK khá lớn sang TQ, nhưng theo tôi đây không phải là mặt hàng mà VN có lợi thế tại thị trường này. Tương lai, gạo VN sẽ khó mà cạnh tranh được với gạo Ấn Độ, Mianma, Thái Lan... Chúng ta XK vài ba triệu tấn gạo qua TQ cũng chẳng đáng bao nhiêu tiền nên tôi cho rằng không nên xem gạo là mặt hàng mũi nhọn...

Năm 2012, TQ tiêu thụ tới gần 500 triệu tấn xăng dầu, trong đó họ phải NK tới 54,8%. Nhu cầu năng lượng đang trở thành vấn đề an ninh nghiêm trọng của TQ. Tới đây, TQ sẽ phải NK 600 – 700 triệu tấn xăng dầu, trong đó có xăng dầu sinh học. VN có sinh khối rất lớn để SX năng lượng sinh học, về chiến lược lâu dài, đây sẽ là cơ hội tốt cho chúng ta để có thể XK năng lượng sinh học qua TQ nếu có chiến lược đầu tư thích hợp” – nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn.

NGUYỄN CÔNG TẠN

Đang được quan tâm

Gửi bình luận