Chủ nhật, 22/07/2018 09:22 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Xác lập vị thế lúa gạo Việt Nam

10/11/2011, 10:14 (GMT+7)

Nằm trong chuỗi hoạt động Festival Lúa gạo Việt Nam lần thứ II – 2011 tại Sóc Trăng, ngày 9/11 Hội thảo "Định vị thương hiệu lúa gạo Việt Nam" thu hút hơn 500 đại biểu tham dự. Làm thế nào để cải thiện vị trí, xác lập vị thế hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới là vấn đề được quan tâm tại hội thảo.

Cơ hội lớn

GS.TS Bùi Chí Bửu, Phó Giám đốc Viện Khoa học VN, Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp Miền Nam nhận định: "Một kỷ nguyên của lương thực giá rẻ đã đến đường hầm. Tác động phối hợp của những yếu tố và nhu cầu gia tăng đang diễn ra tại Ấn Độ và Trung Quốc, hai nước đông dân vào bậc nhất cùng với những tác động khác về phát triển nhiên liệu sinh học và những ngành phi nông nghiệp là những thách thức làm giá lương thực tăng cao, nhưng lại mở ra cơ hội cho các nước sản xuất XK lúa gạo".

Ông Huỳnh Minh Huệ, Tổng thư ký Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dự báo năm 2012, lượng cung gạo toàn cầu vượt mức tiêu dùng, thương mại gạo ổn định, tồn kho gạo cuối kỳ 2011-2012 ở mức cao nhất kể từ 2002- 2003. Tuy nhiên thị trường gạo vốn có tính đặc thù, rất dễ biến động bởi các yếu tố như thiên tai, biến động tiền tệ, lạm phát giá lương thực, chính sách lương thực ở các nước XNK. Vì vậy, vấn đề thị trường không quá lo ngại.

Cũng theo ông Huệ, dự kiến năm 2012 Việt Nam đạt sản lượng lúa 41 triệu tấn, XK 7 triệu tấn. Trong những năm tới, Việt Nam vẫn có khả năng vượt qua khó khăn, sản xuất lúa gạo ổn định, XK tăng mạnh và có nhiều cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Xây dựng thương hiệu

Từ năm 1989 đến nay, hơn 22 năm tham gia thị trường XK gạo và trở thành một cường quốc XK gạo hàng thứ 2 trên thế giới, hạt gạo Việt Nam đang được thị trường NK của nhiều nước ưa chuộng, đặt hàng. Thế nhưng để tạo dựng thương hiệu gạo Việt, có ý kiến cho rằng nông dân sản xuất lúa gạo cần phải trả lời được các câu hỏi là sản xuất để bán cho ai, nhu cầu từ đâu để đáp ứng.

Ông V Subramanian, Phó Chủ tịch Rice Trader – tổ chức thương mại gạo Singapore cho rằng: "Cần xác định về thị trường và đích đến chủ yếu, thị phần của các DNXK gạo Việt Nam ở đâu. Đối thủ cạnh tranh của Việt Nam là ai?". Đánh giá các quốc gia XK gạo, ông V Subramanian phân tích: Về Thái Lan, gạo qua sơ chế, gạo Jasmine, gạo nếp và gạo trắng luôn đứng đầu thị trường. Ấn Độ, Pakistan gần đây trở lại thị trường với lợi thế là gạo qua sơ chế. Mỹ và Braxin ít cạnh tranh với gạo Việt Nam hơn...

Từ những nhận định trên, có thể đi đến kết luận, dù muốn dù không, châu Á vẫn là thị trường quan trọng đối với Việt Nam cả gạo cao cấp, gạo thơm, gạo nếp. Đặc biệt gần đây gạo Jasmine bán cạnh tranh với gạo Thái Lan và gạo thơm của Campuchia và hiện đã XK qua Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia, Singapore. Giá gạo thơm tăng cao cùng lúc với giá gạo Thái Lan tăng đã tạo cơ hội cạnh tranh cho gạo Việt Nam cũng như tạo đối trọng với gạo Thái Lan. Có vẻ vận may của thị trường gạo thế giới như phụ thuộc vào các nước Đông Nam Á. Cuối cùng là chính sách giá gạo của Việt Nam nên nằm lưng chừng ở giữa Thái Lan và Ấn Độ.

Ông Lam Sai Ho, nhà phân phối gạo hảo hạng lớn nhất Hồng Kông và các tỉnh phía nam Trung Quốc, trong đó ông này có NK phân phối gạo thơm Việt Nam nhiều nhất, nhận xét: Thái Lan là nước XK gạo lớn nhất. Việt Nam đứng hàng thứ 2. Đối với 2 thị trường gạo Việt Nam tại Trung Quốc và Hồng Kông, liệu gạo thơm Việt Nam có cạnh tranh được với gạo Hương Lài của Thái Lan không?

+ Để định vị thương hiệu lúa gạo Việt Nam, TS Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Chi nhánh Cần Thơ cho rằng, có rất nhiều việc cần phải làm như: Xác định được chiến lược quốc gia về SX và XK; Xây dựng hình ảnh tích cực về lúa gạo VN; Xác định phân khúc thị trường; Chiến lược thị trường và chiến lược khách hàng; Thương hiệu của sản phẩm riêng biệt và Thương hiệu của các Cty.

+ XK gạo của Việt Nam qua 22 năm (1989-2011) đạt 83,7 triệu tấn, kim ngạch đạt 25 tỉ USD. Trong đó năm đầu tiên 1989: 1,42 triệu tấn, đạt 322 triệu USD. Năm 2011 nhiều nhất dự kiến 7 triệu tấn, kim ngạch XK đạt 3,5 tỉ USD. Năm thấp nhất 1991: 1,03 triệu tấn đạt 243 triệu USD. Giá xuất khẩu bình quân 298USD.  

"Trước đây, giai đoạn năm 1990-2000 gạo Việt Nam được cho là gạo giá rẻ, sau đó có một thời gian người ta cho rằng gạo Việt Nam là gạo trộn. Nhưng kể từ năm 2006, Chính phủ Việt Nam có chính sách cải thiện nâng cao phẩm chất lúa gạo, giá trị hạt gạo được nâng lên. Hiện thời gạo thơm Việt Nam bán qua siêu thị ở Sigapore với hình ảnh hạt gạo thon dài, mùi thơm không thua kém gạo Thái Lan. Tôi tin rằng gạo thơm Việt Nam trong tương lai sẽ có vị thế", theo ông Lam Sai Ho.

Qua một chặng đường dài gạo Việt Nam đã tìm được vị thế ngày càng vững vàng trên thị trường thế giới. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, việc xây dựng thương hiệu thì rất lâu, còn phá hủy lại quá dễ. Do vậy, hạt gạo Việt Nam bằng mọi giá phải giữ vững chất lượng, uy tín trên thị trường.

Các nhà sản xuất gạo Việt Nam nên nhắm vào thị trường các nước có người dân thu nhập đang tăng lên, giảm và tiến tới bỏ hẳn việc pha trộn, tiếp tục đầu tư nghiên cứu giống lúa ngon cơm, giảm sử dụng phân bón, giảm dùng thuốc BVTV. Khi chọn phân khúc thị trường cho gạo Việt Nam thì chính sách giá đừng quá tham lam và để vuột mất cơ hội vào tay các nước sản xuất XK gạo khác.

HỮU ĐỨC

Đang được quan tâm

Gửi bình luận