Thứ ba, 19/11/2019 02:43 GMT+7

Hotline: 036.902.4447

Công an Đà Nẵng chỉ đạo phục hồi xử lý nguồn tin tố giác tội phạm

14/10/2019, 12:30 (GMT+7)

Ngày 10/10, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã chỉ đạo Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu sớm ra quyết định phục hồi xử lý nguồn tin tố giác tội phạm theo đơn tố giác của Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại (GD&TĐ).

Dấu hiệu tích cực

Như NNVN đã thông tin, thời gian qua ông Triệu Ngọc Lâm - Tổng biên tập Báo GD&TĐ đã trực tiếp gửi đơn tố cáo bà Nguyễn Thị Thúy Hồng (SN 1959, trú tại 22 Phạm Tứ, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ), nguyên là Trưởng Văn phòng đại diện Báo GD&TĐ ở Đà Nẵng và bà Trương Thị Ngọc Lan (SN 1977, trú tại 71/18 Trần Cao Vân, phường Tam Thuận, quận Thanh Khê), nguyên là kế toán kiêm thủ quỹ văn phòng có dấu hiệu tham ô tài sản của Báo GD&TĐ.

Trong quá trình xử lý đơn tố giác tội phạm, CQĐT Công an quận Hải Châu có nhiều dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật khi ra Quyết định số 38 về việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin tố giác tội phạm. Quyết định trên của Công an quận Hải Châu không phù hợp với Ðiều 148 - Bộ Luật Tố tụng Hình sự.

Ngày 10/10, Thượng tá Nguyễn Văn Cung - Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an TP Đà Nẵng ký văn bản số 602/TB-CSĐT-VP cho biết đã chỉ đạo Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu phải sớm ra quyết định phục hồi để giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.

Công an TP Đà Nẵng cho biết đã chỉ đạo phục hồi xử lý thông tin tố giác tội phạm.

Đây là dấu hiệu hết sức tích cực của Công an Đà Nẵng sau gần 1 năm kể từ khi Báo GD&TĐ có văn bản tố cáo hành vi, cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cho thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật của bà Hồng, bà Lan nhưng Công an quận Hải Châu chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

Sai phạm rõ ràng

Kết quả kiểm toán tại Văn phòng đại diện Báo GD&TĐ ở Đà Nẵng cho thấy những vi phạm nghiêm trọng của bà Hồng và bà Lan. Các khoản chi cho cộng tác viên không phải do cộng tác viên ký nhận tiền mà Hồng trực tiếp ký nhận, hồ sơ kế toán kèm theo không có hợp đồng với các cộng tác viên.

Đồng thời thể hiện rõ trên các chứng từ công tác phí (đã cung cấp cho Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu) như: Chi công tác phí thiếu giấy đề nghị thanh toán; Giấy đi đường thiếu ký duyệt của kế toán bộ phận và lãnh đạo cơ quan; không ghi rõ ngày tháng công tác đi và về; mâu thuẫn về nội dung.

Báo GD&TĐ khẳng định đã cung cấp hồ sơ chứng minh kèm theo đơn tố giác tội phạm cho Công an quận Hải Châu.

Đơn cử như tại chứng từ số 87 (ngày 30/7/2011) chi công tác phí là 2.700.000 đồng. Giấy đi đường ghi đi công tác tại Huế và Quảng Nam nhưng kỳ lạ là lại không có dấu đi đường ở Quảng Nam. Hơn nữa, giấy đi đường không ghi cụ thể thời gian công tác ở từng tỉnh từ ngày nào đến ngày nào. Tại chứng từ chi tiền số 75 (ngày 28/6/2011) chi tiền công tác phí Quảng Nam, Huế với số tiền là 1.800.000 đồng, giấy đi đường ghi ngày công tác tại Huế là 7/6/2011, nhưng hóa đơn phòng nghỉ tại Huế lại là ngày 7/5/2011.

Chứng từ 130 (ngày 26/10/2011) chi công tác phí Bình Định, Quảng Ngãi, Huế với số tiền 2.960.000 đồng. Giấy đi đường không ghi rõ đi công tác tại tỉnh nào, từ ngày nào đến ngày nào, hóa đơn phòng nghỉ tại Quy Nhơn 0001953 không hợp lý…

Chứng từ số 69 (ngày 27/5/2010) chi tiền công tác 2 đợt ở Huế và Quảng Trị với số tiền 1.108.000 đồng có sai phạm như: Công tác phí tại tỉnh Quảng Trị khi đang tính cho 3 ngày (từ ngày 7/5/2010 - 9/5/2010) nhưng vé tàu từ Quảng Trị về là ngày 8/5/2010. Giấy đi đường không có chữ ký kế toán, hóa đơn phòng nghỉ tại Huế số 0002045 ngày 28/4/2010 chưa gạch chéo phần để trống, không ghi mã số thuế, không có chữ ký người mua hàng.

Chứng từ số 82 (ngày 30/6/2010) chi tiền công tác phí đi Huế và Quảng Nam với số tiền 1.510.000 đồng cho thấy thời gian đi công tác tại Huế trên giấy đi đường là từ 25/6-28/6 (2010), nhưng vé xe đi từ Đà Nẵng đến Huế lại là ngày 26/6/2010. Hóa đơn phòng nghỉ tại tỉnh Quảng Nam số 0121217 ngày 20/6/2010 không có chữ ký người mua hàng, không có mã số thuế đơn vị mua hàng.

Trường hợp cộng tác viên Nguyễn Thanh Huế (chồng của bà Hồng) là người không có bất cứ một hợp đồng lao động, cộng tác viên nào với báo. Tòa soạn không có bất cứ một văn bản nào cho phép bà Hồng được chi trả lương thường xuyên hàng tháng cho ông Huế, nhưng trong khoảng thời gian 5 năm bà Hồng vẫn tự ý ký chi lương cho chồng. Phiếu chi do bà Hồng ký với tư cách là chủ tài khoản và cũng chính bà Hồng cũng ký luôn vào phiếu chi với tư cách là người nhận tiền. Số tiền bà Hồng đã chi cho chồng mình với sự giúp sức của bà Lan - kế toán kiêm thủ quỹ của văn phòng trong 5 năm đã chiếm đoạt của Nhà nước hơn 44 triệu đồng.

Tiền điện thoại bàn và các chi phí văn phòng khác cũng bị bà Hồng và bà Lan chiếm đoạt. Tổng số tiền của các phiếu chi do bà Hồng ký lớn hơn rất nhiều lần hóa đơn thực tế phát sinh.

Việc bà Hồng ký chi tiền nhà nước vượt hóa đơn thu dịch vụ rất nhiều lần là dấu hiệu hành vi tham nhũng chiếm đoạt tài sản của cơ quan.

PV

Đang được quan tâm

Gửi bình luận