Thứ hai, 20/11/2017 07:38 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Mô hình SX nông nghiệp nào phù hợp cơ chế thị trường và quá trình CNH-HĐH

28/04/2011, 14:55 (GMT+7)

I. Tình hình nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta hiện nay.

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn bao giờ cũng là vấn đề rất khó của mọi quốc gia. Đối với nước ta, từ ngày có Đảng, Đảng ta luôn luôn quan tâm, coi trọng giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đại hội Đảng lần nào cũng đều có các nghị quyết, chủ trương, chính sách và giải pháp cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Thành tựu hơn 25 năm đổi mới, kinh tế nước ta có bước phát triển, đời sống kinh tế và văn hóa của nông dân được nâng lên một bước. Nhưng so với mặt bằng chung thì nông thôn ta vẫn nghèo và phát triển chậm, khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Đặc biệt khi kinh tế thị trường không ngừng hoàn thiện, chi phí cho giáo dục và y tế của nông dân tăng cùng thành thị, nhưng mức tăng thu nhập của cư dân nông thôn (chiếm khoảng 2/3 dân số cả nước) lại thấp so với thành thị nên cuộc sống của nông dân ngày càng khó khăn.

Đã nhiều năm nay ta áp dụng “giá cánh kéo” để tích lũy ban đầu từ nông nghiệp, nông dân đóng góp nhiều cho nhà nước. Nhà nước còn nghèo, trợ giúp lại cho nông dân có hạn. Những năm gần đây cùng với sự phát triển của đô thị và tiến hành công nghiệp hóa thì nhu cầu về đất tăng lên, dẫn tới diện tích canh tác giảm mạnh, nông dân mất đất, cuộc sống của nông dân một số địa phương khó khăn, một bộ phận nông dân trở thành người không đất trồng cấy, không nghề nghiệp, không đảm bảo được cuộc sống.

Đầu tư cho nông nghiệp của nhà nước cũng giảm dần. Cách đây 10 năm đầu tư cho nông nghiệp là 13,85% tổng đầu tư toàn xã hội, nay còn 6,20% trong khi đó GDP của nông nghiệp chiếm 20,91%. Từ năm 1988 tới 2009, nguồn FDI đầu tư vào nông nghiệp cũng giảm từ 2,25% nay còn 0,58% tổng đăng ký đầu tư FDI. (1)

Hiện nay ở nông thôn, nông dân vẫn chiếm 70% dân số, cơ sở hạ tầng yếu kém, năng suất lao động nông nghiệp rất thấp, nông thôn vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, còn khoảng 10 triệu người nghèo, giáo dục, y tế … còn lạc hậu xa so với thành thị.

Nông dân là chủ lực quân của cách mạng giải phóng dân tộc, là người khởi xướng công cuộc đổi mới, nhưng ít hưởng lợi nhất về đổi mới. Nếu đổi mới mà khoảng cách giàu nghèo càng rộng, chênh lệch giữa thành thị và nông thôn càng lớn thì đổi mới ấy đang chệch hướng, đổi mới không thành công.

Vì vậy, làm gì để nâng cao sức sản xuất cho nông nghiệp, nông dân, nâng cao đời sống cho nông dân, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.

II. Thực trạng mô hình sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay:

Hiện nay đang có rất nhiều mô hình sản xuất trong nông nghiệp. Chúng ta hãy phân tích một số mô hình phổ biến và cơ bản sau:

1. Hợp tác xã nông nghiệp

Từ mô hình hợp tác xã kiểu cũ hình thành trên cơ sở tập thể hóa tư liệu sản xuất, tập thể hóa lao động, tập thể hóa mọi hoạt động kinh tế, biến nông dân thành người làm thuê, làm công, bình công nói chung, mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn động lực. Từ khi chúng ta giao quyền sử dung ruộng đất về cho hộ (Nghị quyết 10 BCT 4/1988) lấy hộ là đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, rồi thực hiện cơ chế thị trường thì mô hình hợp tác xã kiểu cũ không còn phù hợp. Nghị quyết số 13-NQ/TW của Hội nghị TW 5 (Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Quốc hội đã có Luật Hợp tác xã năm 1996 và Luật Hợp tác xã sửa đổi năm 2003 chúng ta tiến hành chuyển hợp tác xã nông nghiệp cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới theo Luật Hợp tác xã bao gồm các nội dung: Kiểm kê, xử lý tài sản, công nợ của hợp tác xã cũ, đăng ký lại danh sách xã viên, xây dựng điều lệ hợp tác xã, tổ chức lại hệ thống dịch vụ và bộ máy quản ký hợp tác xã nông nghiệp. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, từ năm 2006 tới năm 2010 số hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới của ta trên phạm vi toàn quốc có khoảng 9.000 hợp tác xã (khoảng 7,7 triệu xã viên) (2).

Đại đa số các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ chuyển theo cách này. Theo điều tra ở các tỉnh như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định thì có tới 98-100% số hộ nông dân tham gia chuyển đổi từ hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới. (3).

Các tỉnh Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thành lập hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới có khác là giải thể hợp tác xã nông nghiệp cũ thành lập hợp tác xã nông nghiệp mới hoàn toàn theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi. Nông dân tự nguyện góp vốn đáp ứng được nhu cầu hoạt động kinh doanh của hợp tác xã, gắn quyền lợi và trách nhiệm của từng hộ xã viên. Người sáng lập có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ kinh doanh trở thành cán bộ quản lý hợp tác xã, năng động, sáng tạo, thích ứng được cơ chế thị trường nên phát triển vững chắc và có hiệu quả. Nhưng hạn chế cơ bản là số người tham gia lao động trong hợp tác xã quá ít: Đông Nam bộ bình quân 36 người /HTX, Đồng bằng sông Cửu Long bình quân 15 người/HTX (4), số hộ nông dân nghèo tham gia ít, số lượng hợp tác xã trong vùng cũng thấp, chứng tỏ sức hấp dẫn theo mô hình này không cao.

Ở Đồng bằng sông Hồng số hộ tham gia hợp tác xã nông nghiệp đông. Hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu là hợp tác xã dịch vụ: khâu nào hộ xã viên làm riêng lẻ không hiệu quả thì hợp tác xã làm. Hợp tác xã đề ra dịch vụ của các khâu như: Hợp tác xã dịch vụ khâu thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, dịch vụ khuyến nông, hướng dẫn khoa học kỹ thuật, dịch vụ làm đất, bảo vệ nội đồng, cung ứng vật tư … nhưng thường dịch vụ được 4-5 khâu.

Cách chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới vẫn mang nặng tính hình thức: Tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế lợi ích, không có sự thay đổi căn bản, chưa tạo được động lực phát triền mới để gắn lợi ích của các hộ xã viên và người quản lý. Hộ tham gia hợp tác xã theo cách “đánh trống ghi tên” nên họ không góp vốn hoặc có góp thì góp chiếu lệ từ 30.000-50.000 đồng một hộ và bản thân họ không có động lực kinh tế; hợp tác xã thì không có vốn để hoạt động (cán bộ quản lý ngồi chơi xơi nước), xã viên và ban quản lý đều không có động lực nên mô hình kiểu này không thể phát triển được vì ruộng đất theo hộ vẫn manh mún, nhỏ lẻ không tập trung được, không tiến hành cơ khí hoá để nâng cao năng suất, không tiến hành thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, sinh học hoá, thị trường hóa v.v … không tạo ra được sản phẩm hàng hoá lớn để thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập vẫn dẫm chân tại chỗ.

2. Tổ hợp tác:

Từ khi các hợp tác xã kiểu cũ giải thể, tan rã, loại hình tổ hợp tác (có nơi gọi là nhóm sở thích) trong nông nghiệp, nông thôn ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng, một loại hình kinh tế hợp tác đơn giản. Đó là các tổ, hội nghề nghiệp hình thành trên cơ sở tự nguyện của các thành viên tự tham gia hoặc tự ra khỏi tổ, quản lý dân chủ, cùng có lợi. Mục đích là cộng tác, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm nhằm mục tiêu tối đa lợi nhuận của mỗi thành viên.

Loại hình tổ hợp tác không có điều lệ, không có tư cách pháp nhân, quan hệ ràng buộc với nhau được xây dựng trên cơ sở tình cảm, tập quán, truyền thống cộng đồng, không mang tính chất pháp lý.

Theo số liệu của Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2005 cả nước có 93.648 tổ hợp tác, hàng năm tăng 4%, đến năm 2010 đạt 112.000 tổ hợp tác (5). Nhiều địa phương phát triển mạnh có hàng nghìn tới hàng chục nghìn tổ hợp tác (như Thanh Hóa 22.752 tổ, Hưng Yên 1.754 tổ, Quảng Bình 1.172 tổ, Nghệ An 2.000 tổ, Yên Bái 2.500 tổ…) (6). Đặc biệt ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tổ hợp tác trở thành hình thức kinh tế tập thể chính của vùng, được coi là tổ chức có phương thức mưu sinh hiệu quả nhất, năng động nhất hiện nay.

Thực trạng sự phát triển tổ hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn dựa trên các cơ sở là: Tổ hình thành trên cơ sở địa phương không còn hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã kiểu mới được hình thành từ các tổ hợp tác và tổ hợp tác ra đời từ các hợp tác xã kiểu mới. Các loại hình chủ yếu là: Tổ hợp tác tưới tiêu, tổ hợp tác vay vốn, tổ hợp tác khoa học kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm, tổ hợp tác lao động, tổ hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt, tổ hợp tác chăn nuôi, tổ hợp tác thủy sản, tổ hợp tác ngành nghề nông thôn, tổ hợp tác quản lý bảo vệ rừng…

Mô hình này là hình thức phổ biến trong thành phần kinh tế tập thể, nó phù hợp với yêu cầu sản xuất, phù hợp với đường lối phát triền kinh tế của Đảng, là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng hóa. Tổ hợp tác đóng góp rất quan trọng vào việc giải quyết giữa sản xuất nhỏ manh mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nó là cơ sở để hình thành hợp tác xã kiểu mới, liên hiệp hợp tác xã, doanh nghiệp-hợp tác xã (hợp tác xã cổ phần), các hiệp hội trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời tổ hợp tác là vệ tinh quan trọng làm cho sức sống hợp tác xã kiểu mới càng lớn mạnh.

Tổ hợp tác không cần các Quy định về tư cách pháp nhân, hoạt động của nó linh hoạt, mềm dẻo theo quy ước của những người tham gia, không trái với pháp luật nên hiệu quả cao, khi có yêu cầu liên kết thì hợp tác với nhau, khi không còn yêu cầu thì tự giải tán không cần quyết định của cấp nào cả.

Tổ hợp tác mang tính tự nguyện, tự chủ, tự quản, không cần phải ra đời hệ thống, ban bệ nhưng vẫn đảm bảo được tính công bằng, trung thực, không bị thất thoát tài sản, không tham nhũng….

Tổ hợp tác với sự thông thoáng về tổ chức, phong phú đa dạng ngành nghề, loại hình này trở thành phương thức mưu sinh bền vững cho những người nông dân không những ở vùng đồng bằng mà còn cả ở vùng núi, vùng biển nơi có nền kinh tế phát triển còn thấp và trình độ sản xuất lạc hậu.

Nhưng cho tới nay Nhà nước chưa có một chế tài cụ thể cho tổ hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn.

3. Kinh tế trang trại:

Trước đổi mới, thành phần kinh tế trang trại không được chấp nhận, chỉ sau khoán 10, giao quyền sử dụng ruộng đất về cho hộ nông dân, khi kinh tế phát triển trong thời gian dài, dần dần hình thành kinh tế trang trại. Sau đổi mới với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, của Ban Chấp hành TW Khóa VIII tháng 12/1997, Đảng ta mới có chủ trương giải quyết một số vấn đề về quan điểm và chính sách nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển kinh tế trang trại.

Tháng 2/2002, Chính phủ có Nghị quyết về phát triến kinh tế trang trại với 7 chính sách cụ thể.

Đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại là:

- Sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa với quy mô lớn hơn kinh tế hộ.

- Tập trung hóa, chuyên môn hóa các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với kinh tế hộ.

- Chủ trang trại có kiến thức, kinh nghiệm điều hành sản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ.

Theo báo cáo của Cục Thống kê trong thời gian chưa đầy 10 năm cả nước đã phát triển lên trên 150.000 trang trại các loại, sử dụng gần 1 triệu ha đất trống, ao hoang, đồi núi trọc. Cho tới nay các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%, chăn nuôi gia súc, gia cầm 10,3%, lâm nghiệp 2,2%, nuôi trồng thuỷ sản 27,3%, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9%. (7).

Lúc đầu từ mảnh vườn, ao cá, chuồng trại truyền thống sản xuất thấy hiệu quả thì mở rộng quy mô vườn, ao, chuồng (VAC) lên vài ha và đã thu hàng trăm triệu đồng/1 trang trại. Nhà nước có chính sách cho thuê đất 5%, đất trống đồi núi trọc, ao, đầm hoang hoá để cải tạo, các hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư thêm vốn, mở rộng quy mô, áp dụng các giải pháp quản lý và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trang trại.

Cho đến nay kết quả đạt được là:

- Khai thác thêm 30 vạn ha đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa.

- Huy động 20.000 tỷ đồng vốn trong dân để đầu tư.

- Giải quyết 30 vạn lao động thường xuyên và 30 triệu ngày công thời vụ.

- Hàng năm làm ra 12.000 tỷ đồng.

- Trang trại vừa sản xuất vừa cấp giống tốt, dịch vụ kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm cho trang trại và nhân dân trong vùng. (8).

Nhưng trang trại còn rất khó vay vốn để sản xuất kinh doanh. 

4. Mô hình liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp

Một nghịch lý đang tồn tại là: Người có khả năng kinh doanh nhưng lại không có đất đai, còn người có đất đai lại không có khả năng kinh doanh.

Hộ nông dân có diện tích nhỏ lẻ, manh mún mà nhỏ lẻ manh mún thì không thể sản xuất ra sản phẩm lớn, sản xuất hàng hoá được, suốt đời nghèo khó. Chỉ có tập trung ruộng đất hay tích tụ ruộng đất * mới thực hiện sản xuất lớn được, mới có điều kiện để tiến hành cơ giới hoá để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, mới tiến hành thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, sinh học hoá, thị trường hóa…, mới tiến hành chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm và giá trị hàng hoá.

Có rất nhiều mô hình liên kết liên doanh với các doanh nghiệp cả quốc doanh và tư doanh với hợp tác xã, với hộ nông dân, cụ thể là:

- Doanh nghiệp lo đầu tư vốn, cung cấp giống tốt, kỹ thuật, vật tư cho sản xuất nông nghiệp, tiến hành chế biến và tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra.

- Hộ nông dân góp ruộng và ngày công lao động theo quy hoạch “liền vùng, cùng trà, khác chủ” sản phẩm làm ra được doanh nghiệp thu mua chế biến và tiêu thụ.

Mô hình này hiện đang diễn ra rất sôi động ở nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều dạng, mấu chốt là sản phẩm làm ra được chế biến và tiêu thụ, trở thành hàng hoá lớn.

Có thể nêu một số mô hình sau:

- Hợp tác xã, nông dân liên doanh liên kết với các công ty sản xuất mía đường (Nhà máy đường Lam Sơn, Thanh Hoá; nhà máy đường Biên Hoà và Bourbon Tây Ninh).

- Hợp tác xã liên doanh với doanh nghiệp sản xuất rau quả thực phẩm (Công ty Đông Phương, Công ty Bẩy Hoà, TP.Hồ Chí Minh; Vân Nội, Hà Nội; Xuân Hương, Đà Lạt…).

Sản xuất cây ăn quả (Công ty Vĩnh Kim, sản xuất vú sữa Vĩnh Long; Công ty G.O.C sản xuất dứa ở Bắc Giang).

Sản xuất cây công nghiệp (Công ty chè Mộc Châu sản xuất chè Shan-tuyết; Công ty chè Phú Đa, Thanh Sơn, Phú Thọ).

Sản xuất thuỷ sản (Công ty Hùng Vương, Cần Thơ sản xuất tiêu thụ hàng vạn tấn cá tra).

Sản xuất lúa gạo xuất khẩu (Công ty Tam Nông, Đồng Tháp)

Sản xuất các loại giống lúa, ngô chất lượng cao (Công ty CP giống cây trồng Thái Bình, Công ty Chiềng Sung sản xuất giống ngô ở Sơn La, Công ty Cường Tân, Trực Ninh, Nam Định nông dân cho thuê đất rồi làm công cho Công ty) và rất nhiều loại hình khác.

Phần lớn là hợp tác xã liên doanh, liên kết với 3 nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học) nên những mô hình này rất sống động, sản xuất, chế bỉến, tiêu thụ sản phẩm ổn định, phát triển và hiệu quả . Đây là những mô hình có thể nhân rộng, khuyến khích phát triển mạnh trong giai đoạn hiện nay cần được khuyến khích.

5. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp cổ phần (hay doanh nghiệp - hợp tác xã):

Mô hình này phát triển ở mức độ cao hơn, tự thân vận động. Đó là các hộ trong hợp tác xã quy mô thôn hay hợp tác xã quy mô xã tự góp vốn (ở mức độ cao, không phải ở mức 50 ngàn đồng/hộ như kiểu hợp tác xã hiện nay. Hộ nông dân là những cổ đông, họ góp vốn bằng quyền sử dụng đất và tính cổ phần. Họ vẫn là nông dân, đất vẫn thuộc về họ. Họ được chia cổ tức và nhận lương khi lao động, cũng có thể kêu gọi 10-20 người trong hợp tác xã đóng góp vốn cao hơn đủ để tiến hành sản xuất kinh doanh và được chia cổ tức, lợi nhuận. Đặc biệt Ban quản lý phải là những người có trình độ quản lý, có ý chí đầu tư, nhiệt tình, năng động, sáng tạo. Ban quản lý thường gọn nhẹ gồm: chủ nhiệm phụ trách chung, 2-3 phó chủ nhiệm phụ trách trồng trọt, chăn nuôi, phụ trách hậu cần, phụ trách gia công chế biến tiêu thu sản phẩm. Nông dân được chia từ các nguồn: Thu từ đóng góp cổ phần bằng ruộng đất, từ ngày công cụ thể bằng lao động, từ lợi nhuận hàng năm của hợp tác xã cổ phần, từ trích lãi tăng theo từng vụ, từng năm.

Đây là mô hình mới, khó thực hiện hơn bởi vì:

- Phải tìm chọn được Ban quản lý là những người có trình độ, có kinh nghiệm, có ý chí đầu tư, năng động sáng tạo.

- Phải góp vốn lớn (hàng triệu đồng) đủ để sản xuất kinh doanh.

- Phải đầu tư máy móc để sản xuất, chế biến và tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ra khối lượng hàng hóa lớn.

Nếu thực hiện được mô hình này nó giải quyết được nhiều vấn đề lớn đó là:

- Tập trung hay tích tụ được ruộng đất để tiến hành cơ giới hóa sản xuất ra sản phẩm hàng hóa lớn, nâng cao được năng suất lao động, hạ giá thành, phù hợp cơ chế thị trường, sản xuất hàng hóa.

- Nông dân không bị mất đất, cái mà nông dân không muốn, thì mới ổn định lâu dài tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn được.

- Phải tìm được thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm làm ra.

Muốn vậy phải quy hoạch lại vùng sản xuẩt, hoạch định sản xụất những sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi chính và tìm thị trường tiêu thụ ổn định.

Ở nước ta hiện nay mô hình này đang xuất hiện ở một số nơi nhưng số lượng còn ít. Ví dụ như hợp tác xã cổ phần nông nghiệp Bắc Vọng, Bắc Phú, Sóc Sơn, Hà Nội; hợp tác xã cổ phần cà phê Lâm Viên, Lâm Đồng; hợp tác xã cổ phần vải thiều Trại mới, Giáp Sơn; hợp tác xã cổ phần Kiều Thạch xã Thanh Hải, Lục Ngạn, Bắc Giang. Cụ thể là mỗi hợp tác xã cổ phần quy tụ được số đông thành viên là những người có nhu cầu, chung lợi ích, tự nguyện góp vốn, góp ruộng vườn, vốn điều lệ cao hàng tỷ đồng (tính giá trị các sản vật vườn ruộng), vốn lưu động có hàng trăm triệu đồng để sản xuất kinh doanh, sản phẩm làm ra đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm để có thể tiêu thụ cả trong và ngoài nước. 

III. Quy luật của sự phù hợp

Thực tiễn trong quá trình phát triền kinh tế chúng ta mới nhận ra rằng: Quan hệ sản xuất lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn trình độ lực lượng sản xuất một cách giả tạo sẽ kìm hãm, hạn chế sự phát triền của lực lượng sản xuất. Như nước ta từ năm 1975 tới 1986, chúng ta đã kéo dài cơ chế chính sách kế họach hóa tập trung, quan liêu bao cấp với tư tưởng nôn nóng muốn đưa nước ta tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Bây giờ chúng ta nhận thức lại là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không thể vài chục năm là giải quyết xong cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội mà phải hàng trăm năm, nhiều thế hệ.

Do đó, thời kỳ quá độ ở một số nước nông nghiệp lạc hậu tất yếu chúng ta phải tôn trọng nhiều hình thức sở hữu. Hình thức sở hữu nào còn động lực chúng ta phải chấp nhận nó, trong đó có cả hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nên chưa thể xóa bỏ ngay mọi hình thức bóc lột được. Chỉ đến khi trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển cao, mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì khi ấy mới có điều kiện chín muồi thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội không còn bóc lột. Do vậy chúng ta phải chấp nhận đa sở hữu ở thời kỳ quá độ.

Trong nông nghiệp, nông thôn cũng thế, không chỉ có kinh tế tập thể mà vẫn phải đa hình thức sở hữu, đa dạng, đa quy mô phù hợp với trình độ quản lý, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nơi đó, phù hợp với cơ chế thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Mô hình nào tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển thì ta nên ủng hộ. 

IV. Lựa chọn mô hình:

Từ sự phân tích trên, chúng ta chấp nhận phải đa hình thức sở hữu, đa mô hình và đa quy mô mới phù hợp với thời kỳ quá độ hiện nay (ta phải hiểu rằng thời kỳ quá độ còn dài). Như vậy, tùy từng nơi, từng vùng, tùy từng trình độ quản lý và trình độ phát triền của lực lượng sản xuất mà áp dụng 5 mô hình sau:

- Mô hình trang trại.

- Mô hình tổ hợp tác.

- Mô hình hợp tác xã dịch vụ (HTX kiểu mới)

- Mô hình hợp tác xã liên doanh liên kết với doanh nghiệp.

- Mô hình hợp tác xã cổ phần (doanh nghiệp –HTX).

Hai mô hình: Mô hình liên doanh liên kết với các doanh nghiệp và mô hình hợp tác xã cổ phần (doanh nghiệp –HTX) sẽ đưa sản xuất nông nghiệp nước ta lên sản xuất lớn, bởi vì:

- Nó tập trung, tích tụ được ruộng đất (không ở tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, “dẫm chân tại chỗ” như hiện nay.

- Sẽ tiến hành hiện đại hóa về nông nghiệp, nông thôn (tiến hành cơ khí hóa để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điện khí hóa, thủy lợi hóa, sinh học hóa, thị trường hóa v.v…).

- Nó tiến hành sản xuất ra khối lượng hàng hóa lớn mới tiêu thụ được các sản phẩm nông dân làm ra, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập.

- Nông dân không bị mất đất, cái mà nông dân không bao giờ muốn. Đó là thành quả của cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mà Đảng đã mang lại cho nông dân.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, đời sống của nông dân sẽ được nâng lên, bộ mặt nông thôn sẽ đổi mới, sẽ giải quyết được mâu thuẫn mất cân đối giữa thành thị và nông thôn và như vậy công nghiệp hóa của chúng ta mới thành công, đổi mới mới đúng hướng.

Đây là vấn đề lớn đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải có chủ trương, chính sách, giải pháp tập trung cao độ, bền bỉ, tạo thuân lợi cho kinh tế hợp tác xã các loại hình hợp tác xã phát triển.  

V. Những chính sách cần phải giải quyết: 

1. Chính sách về đất đai:

- Trước hết phải tiếp tục chỉ đạo cuộc vận động dồn điền, đổi thửa trong các hộ nông dân từ 10-12 mảnh/hộ xuống còn 1-2 mảnh/hộ, không còn manh mún, nhỏ lẻ để tiến hành sản xuất ra sản phẩm hàng hóa hoặc có thể dùng “mảnh lớn” để góp cổ phần bằng ruộng đất sản xuất hàng hóa lớn hơn.

- Sửa đổi, bổ sung Luật đất đai, giao quyền sử dụng lâu dài cho nông dân từ 20 năm lên 50-70 năm.

- Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn sẽ diễn ra sự phân công lại lao động rất lớn. Lao động trong nông nghiệp sẽ dịch chuyển ra các khu công nghiệp, ra thành thị, ra làm dịch vụ…, giảm từ 70% xuống còn 40% rồi 20% và khi nước ta trở thành nước công nghiệp thì lao động trong nông nghiệp chỉ còn 5-7%. Cho nên bỏ hạn điền để mở đường cho tập trung và tích tụ ruộng đất tạo điều kiện cho các loại hình sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn, hiện đại, nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân.          

2. Chính sách tín dụng:

Phải có cơ chế chính sách cho nông dân, hay bất kể mô hình nào cũng được vay vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Không được vay vốn thì mô hình nào cũng không hoạt động và phát triển được. Chính sách tín dụng hiện nay chưa thực sự tạo điều kiện cho các loại hình hợp tác vay vốn để phát triển sản xuất.

3. Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp.

Nhà nước kêu gọi các loại hình doanh nghiệp đầu tư, liên doanh, liên kết với hợp tác xã, với nông dân bằng nhiều chính sách ưu đãi như miễn giảm thuế, ưu tiên vay vốn, tiêu thụ sản phẩm, bảo hộ sản phẩm… để doanh nghiệp thuận lợi đầu tư vào nông nghiệp, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn.

4. Chính sách đào tạo cán bộ:

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho các dạng hình hợp tác là vô cùng quan trọng, nó nâng cao nguồn lực lâu dài cho các mô hình để quản lý, kinh doanh có hiệu quả, mở rộng liên doanh liên kết với các thành phần kinh tế. Đây là yếu tố con người mang tính quyết định thành bại. Thậm trí Đảng và Nhà nước cần có chính sách đưa cán bộ giỏi, có kinh nghiệm, năng lực, sinh viên tốt nghiệp ra trường về nông thôn giúp nông dân , giúp hợp tác xã xây dựng nông thôn mới, xây dựng hợp tác xã làm ăn lớn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Đại hội X của Đảng đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nội dung chủ yếu của Nghị quyết này là xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chưa đặt vấn đề giải quyết quan hệ sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường, nhiều thành phần kinh tế. Đại hội XI lần này đề nghị Đảng cần có nghị quyết riêng về giải quyết quan hệ sản xuất phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập ở nông thôn rộng lớn của chúng ta hiện nay.

Tài liệu tham khảo: 

(1). Báo cáo Quốc hội, kỳ họp thứ 9, “Tình hình kinh tế xã hội năm 2010”, ngày 26/3/2011.

(2). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể 5 năm (2006-2010) trong lĩnh vực nông nghiệp”. ngày 16/5/2006.

(3). GS.TS Hồ Văn Vĩnh,”Phát triển hợp tác xã trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta”, Posted on 13/6/2009, Civillawinfor.

(4). GS.TS Hồ Văn Vĩnh,”Phát triển hợp tác xã trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta”, Posted on 13/6/2009, Civillawinfor.

(5). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, “Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể 5 năm (2006-2010) trong lĩnh vực nông nghiệp”. ngày 16/5/2006.

(6). Ninh Văn Hiệp “Tổ hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn một phương thức mưu sinh bền vững của nông dân”, Viện CISDOMA.

(7). Hội VACVINA “Báo cáo của Hội Làm vườn Việt Nam”,tháng 6 năm 2010.  

(8). Hội VACVINA “Báo cáo của Hội Làm vườn Việt Nam”,tháng 6 năm 2010.

(*): Tác giả nguyên là Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam

TS BÙI SỸ TIẾU (*)

Đang được quan tâm

Gửi bình luận