Thứ hai, 25/09/2017 02:33 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

"Ông hoàng" cải lương

02/02/2011, 08:19 (GMT+7)

Có lẽ ít người dân Nam bộ nào lại không biết tới bản "Dạ cổ hoài lang". Người đã sáng tác ra bài "hít" cho sân khẩu cải lương này là cố nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu.

Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu
Vào một đêm cuối năm 1896, có 20 gia đình nông dân nghèo ở xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An, vì không chịu nổi cảnh sưu cao thuế nặng của bọn quan lại địa phương đã âm thầm trốn đi xứ khác. Sau nhiều ngày lênh đênh trên sông nước, họ dừng chân nơi vùng đất Bạc Liêu trù phú. Trong đó có gia đình ông Cao Văn Giỏi, cha của người nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu, lúc ấy chưa tròn 5 tuổi.

Ông Cao Văn Giỏi là người rất trọng đạo Nho nên khi đến vùng đất mới, ông gửi Cao Văn Lầu vào chùa Vĩnh Phước An, học chữ nho. Học được vài năm thì phong trào chữ Quốc ngữ bắt đầu phát triển, ông cho con theo học chữ Quốc ngữ. Nhờ sáng dạ nên Cao Văn Lầu được thầy yêu, bạn mến. Học đến lớp nhì (lớp 4 ngày nay), ông nghỉ học theo cha đi làm kiếm sống. Lúc bấy giờ ở xóm Rạch Ông Bổn có ông thầy đờn Lê Tài Khị, tục gọi Nhạc Khị, nổi tiếng môn nhạc lễ và nhạc tài tử. Thế là Cao Văn Lầu được cha cho thọ giáo thầy Nhạc Khị. Nhờ chăm chỉ, chẳng bao lâu Cao Văn Lầu sử dụng thành thạo các nhạc cụ: đàn tranh, cò, kìm, trống lễ... và trở thành nhạc sĩ nòng cốt trong ban nhạc của thầy.

VỢ CHỒNG THỦY CHUNG

Ban nhạc của Cao Văn Lầu hoạt động theo hình thức nhạc lễ kết hợp với đờn ca tài tử. Trong các cuộc tế lễ ban đêm, thầy tụng xả hơi thì ban nhạc bày ra đờn ca tài tử, một hình thức mới mà bấy lâu thầy Nhạc Khị chưa có điều kiện thực hiện. Nhờ đó khách đến dự đám vui thích ở lại suốt đêm và danh tiếng Cao Văn Lầu mỗi lúc một vang xa. Soạn giả Mộng Vân, một người bạn đồng môn, lập gánh hát mời ông về làm nhạc trưởng. Vì tình đồng môn, Cao Văn Lầu nhận lời.

Theo đoàn hát được vài năm, lúc này đã 21 tuổi nên cha mẹ bắt về cưới vợ. Cao Văn Lầu cưới bà Trần Thị Tấn, một phụ nữ nết na, hiền thục ở xóm biển Bạc Liêu. Để có tiền cưới vợ, ông phải vay 80 đồng của bà Sư Chơn, mỗi ngày lãi 1,6 đồng tiền lời. Sau đám cưới, hai vợ chồng phải đi vào rừng mò củi, xúc tép để kiếm tiền trả lãi. Suốt ba năm trời quần quật kham khổ, trả nợ xong cũng là lúc người vợ gầy héo không thể sinh con. “Tam niên vô tử bất thành thê”, một quan niệm tàn nhẫn của phong kiến khiến nhiều đôi lứa chia lìa. Vợ chồng Cao Văn Lầu cũng không thoát khỏi tục lụy ấy khi mẹ ông bảo: “Con lo liệu mà kiếm vợ khác để nối dõi tông đường. Đó là chữ hiếu của con mà mẹ cũng trọn đạo với nhà chồng”. Nghe qua nghiêm lệnh của mẹ như trời long đất lở, hạnh phúc lứa đôi rồi đây sẽ sụp đổ. Thương người vợ hiền tần tảo, thủy chung nào hay tin dữ. Ông hiểu phận làm con phải lấy chữ hiếu làm trọng, nhưng chữ tình nào dám bỏ qua.

Sau một thời gian dài không thấy con trai thi hành nghiêm lệnh, bà gọi con dâu lại và cho biết ý định của mình. Vợ Cao Văn Lầu là một phụ nữ lam lũ, giỏi chịu đựng, nghe qua nghiêm lệnh của mẹ chồng không khỏi bàng hoàng nhưng chỉ biết nuốt lệ vào trong. Hôm ấy, bà cố tỏ ra bình thường như mọi ngày cùng chồng vào rừng mò củi, xúc tép  mưu sinh. Đến trưa, hai vợ chồng dọn cơm lên mũi xuồng, đứng dưới nước ăn thì vợ Cao Văn Lầu mới nghẹn ngào nói: “Má không cho tụi mình ở với nhau nữa. Thôi anh cưới vợ khác, em về với cha mẹ em. Đây là bữa cơm cuối cùng chúng mình hạnh phúc bên nhau". Nói xong, vợ gục đầu vào vai chồng mà khóc nức nở.

Chiều nọ, hai vợ chồng ra bìa ruộng, hướng về nhà cha mẹ vợ rồi lại ôm nhau khóc, đến chạng vạng mới chia tay. Sau khi vợ đi rồi, ông như người mất hồn. Một hôm ông sang nhà nhạc phụ tìm vợ thì được tin vợ không trở về. Lòng ông hoang mang, tìm kiếm khắp nơi nhưng hình bóng vợ hiền vẫn bặt tin. Suốt một năm ròng, ông tìm khắp trong vùng chẳng biết vợ ở đâu, đành ôm sầu nuốt lệ. Lòng ngổn ngang bao nỗi buồn đau, cứ mỗi độ chiều tàn ông xách đờn ra bìa ruộng, nơi vợ chồng ly biệt, nhìn ra đồng mà hình dung bóng vợ khuất dần giữa trời đêm. Ông gảy đờn theo tâm trạng vợ hết Xuân nữ đến Nam ai rồi Trường tương tư, những tiếng đờn biệt ly nghe đến đẫm lệ.

Sau nhiều tháng làm bạn với cây đờn bên bìa ruộng, ông đặt mình vào vị thế người vợ đang mong ngóng chồng mà sáng tác bản Hoài lang (Nhớ chồng). Ông vừa đờn vừa ca, mải mê trau chuốt bản đờn sao cho ngọt ngào, lột tả nỗi lòng khi “én nhạn lìa đôi”. Đến khi nghe tiếng trống điểm canh vọng lại ông mới giật mình đêm đã khuya. Ông chợt nghĩ, tiếng trống đêm đánh lên trong khi mình đờn bài Hoài lang. À, phải rồi. Âu là mình lấy hai chữ Dạ cổ (tiếng trống đêm) thêm vào bản nhạc Hoài lang thành Dạ cổ hoài lang (đêm nghe tiếng trống nhớ chồng) vậy là hay biết mấy. Để rồi, vào một đêm rằm tháng 8/1919, tại làng Vĩnh Hương, tổng Hòa Thạnh (nay là phường 2, thị xã Bạc Liêu), nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã chính thức công bố bản Dạ cổ hoài lang với 20 câu làm não nuột người nghe*. Nói như nghệ sĩ Lâm Tường Vân (Hội Nghệ sĩ TPHCM): “Đó cũng là một bản oán đặc biệt, buồn biệt ly và hy vọng đợi chờ”.

Sau này theo lời kể của ông Cao Kiến Thiết (nguyên cán bộ cao cấp Đại sứ quán VN tại Mông Cổ, con trai trưởng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu), ông bảo có lần nghe cha mình tâm sự với bạn bè: “Lúc ấy tôi nghĩ, giờ này vợ ở đâu. Số phận vợ mình sao mà giống thân phận nàng Tô Huệ, quá thương chồng nên dệt bức Chức cẩm hồn văn dâng lên vua để tỏ lòng nhớ thương. Hay nàng Tô Thị vì thương chồng mà đứng đợi đến khi hóa thành đá. Nên tôi viết bài Dạ cổ hoài lang”.

Bản Dạ cổ hoài lang tuy đã hoàn chỉnh, nhưng nhạc sĩ Cao Văn Lầu vẫn chưa an lòng. Ông không thể cam chịu cảnh chia ly vĩnh viễn để một mình than khóc với bài ca. Ông quyết tâm đi vào từng xóm, từng nhà để tìm vợ. Và rồi thật bất ngờ, ông tìm được nàng khi đang ở ẩn sau mái chùa làm công quả. Sau thời gian dài phu - thê chịu cảnh “đêm đông gối chiếc cô phòng”, nay cuộc trùng phùng như hồi tái sinh. Từ đó, ông thường lui tới thăm vợ. Nhưng lâu ngày quan hệ sợ bại lộ, ông liên tục thay đổi chỗ ở cho vợ, từ am nhà ông Chính qua nhà bà chủ Đường rồi đến nhà bà Xịu... toàn những nơi kín đáo, thân tình. Ít lâu sau, tin lành như “sét đánh”, vợ ông mang thai. Đến nước này, ông đành “liều” về thưa với mẹ. Người mẹ nghe xong sững sờ như bắt được vàng, hối thúc ông mau mau chuẩn bị xuồng đi đón con dâu trở về “mái nhà xưa”.

MANG GIÁ TRỊ VĨNH HẰNG

Vừa ra đời, bản Dạ cổ hoài lang đã chiếm được cảm tình giới mộ điệu và nhanh chóng trở thành bài ca “hít” trên sân khấu cải lương Nam bộ. Theo GS -TS Trần Văn Khê, khi ấy bài Dạ cổ hoài lang đã có nhiều gánh cải lương đua nhau giới thiệu, nhiều nghệ sĩ cải lương danh tiếng như Cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre, cô Bảy Phùng Há, Năm Châu và Tư Út... cũng thích ca bản này. Các hãng đĩa nổi tiếng lúc bấy giờ là Pathé - Phono, Beka, Columbia... cũng nhảy vào cuộc.

Trong không khí rộn ràng đón Xuân Tân Mão, chúng tôi nhận được tin vui từ GSTS Trần Văn Khê, tác giả Lê Duy Hạnh (Chủ tịch Hội Sân khấu TP.HCM) và ông Nguyễn Văn Tấn, GĐ Cơ quan đại diện Bộ VH-TT-DL tại TP HCM, để cho bản Dạ cổ hoài lang được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới dự kiến sẽ được trình lên UNESCO vào tháng 3/2011 tới, trước mắt tỉnh Bạc Liêu đã và đang khẩn trương xúc tiến lập hồ sơ đề nghị Bộ VH-TT-DL xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Sở dĩ bản nhạc đi vào lòng người là do phù hợp với nỗi niềm của thời đại. Những người phụ nữ có chồng bị bắt lính, tham chiến tại Pháp trong thế chiến thứ nhất thấy lời ca gần gũi với tâm trạng, còn những người có tấm lòng ưu ái với đất nước lại thấy ở bản nhạc nỗi buồn trĩu nặng vì vận nước non sông, song vẫn bùng lên hy vọng ở tương lai qua lời ca lạc quan ở cuối bài. Giai điệu "Từ là từ phu tướng/Báu kiếm sắc phán lên đàng..." mỗi lần vang lên như tiếng lòng chinh phụ, ngầm thôi thúc nhiều người mạnh dạn lên đường.

Qua mỗi giai đoạn phát triển bản Dạ cổ hoài lang thêm hoàn thiện và chuyển dần thành nhiều nhịp. Từ lúc ra đời với nhịp đôi, tăng lên nhịp 4, 8, 16, 32... Và cứ mỗi lần phát triển, Dạ cổ hoài lang không dừng lại ở nguyên bản như các bài nhạc cổ khác, mà dần biến đổi hình thức, làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương Nam bộ. Thập niên 60 (TK XX), được coi là bước chuyển mạnh mẽ nhất của bản Dạ cổ hoài lang, soạn giả Viễn Châu tạo nên mối lương duyên kỳ lạ, khi kết hợp tân nhạc vào bản vọng cổ cho ra đời bản Tân cổ giao duyên và trở thành bài ca chính thống, bài ca “vua” trên sân khấu cải lương. Các điệu Lý con sáo, Lý giao duyên... đan xen vào làm phong phú thêm cho bài vọng cổ. Từ đây, bản vọng cổ đã góp phần mang lại sự vinh quang cho nhiều lớp nghệ sĩ, danh ca, danh cầm, soạn giả cải lương.

Đến nay, bản Dạ cổ hoài lang đã phát triển thành bản vọng cổ, gắn liền với sinh hoạt đời thường của mọi tầng lớp nhân dân, do làn điệu dễ ca, dễ thuộc nên hầu hết mọi lứa tuổi. “Trong cổ nhạc VN, chưa có bài bản nào được như Dạ cổ hoài lang biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sanh từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng và sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu bốn bể”, GS -TS Trần Văn Khê khận định. 

* Theo GS Trần Văn Khê, lời ca của bài Dạ cổ hoài lang, nhịp đôi có nhiều dị bản.

ĐỖ QUYÊN

Đang được quan tâm

Gửi bình luận