Thứ sáu, 22/09/2017 07:00 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Phát huy thế mạnh của từng ngành, địa phương

31/12/2013, 14:11 (GMT+7)

Tại Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ năm 2014 của ngành nông nghiệp, nhiều ý kiến của các ngành, địa phương đã góp phần định hướng phát triển của ngành trong năm tới.

Tại Hội nghị trực tuyến triển khai nhiệm vụ năm 2014 của ngành nông nghiệp, nhiều ý kiến của các ngành, địa phương đã góp phần định hướng phát triển của ngành trong năm tới. NNVN xin trích đăng một số ý kiến tâm huyết.

Người nông dân vất vả nhưng chưa được hưởng thành quả xứng với công sức bỏ ra

Ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh: SX gắn với tiêu thụ nông sản

Trong cơ cấu GDP của Quảng Ninh, nông nghiệp chỉ chiếm 5%, nhưng dân số sống bằng nghề nông nghiệp chiếm tới 50%. Những năm trước, tỉnh dành nhiều quan tâm hơn đến phát triển công nghiệp và du lịch, nhưng, 2-3 năm trở lại đây, chúng tôi đã điều chỉnh lại định hướng điều hành, đầu tư nhiều hơn cho nông nghiệp, bởi nó liên quan đến vấn đề an sinh xã hội của 50% dân số của tỉnh.

Năm 2013, tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp đạt 4,72%, vượt chỉ tiêu đề ra, thu nhập của khu vực nông nghiệp đạt trung bình 1.300 USD. Sở dĩ có được thành tích trên là do tỉnh đẩy mạnh chuyển đổi từ SX nhỏ, manh mún sang SX hàng hoá, quan trọng nhất là gắn SX với xây dựng thương hiệu sản phẩm. Năm 2012 – 2013 chúng tôi đã xây dựng được 23 thương hiệu nông sản, nó là bệ đỡ rất tốt cho lĩnh vực SX. Quảng Ninh cũng đã quy hoạch được các vùng SX lớn, xác định các cây trồng, vật nuôi chiến lược và đưa khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ cao vào áp dụng.

Nghiên cứu, SX giống tại chỗ cũng là định hướng chiến lược của Quảng Ninh. Hiện chúng tôi đang xây dựng hai trung tâm giống, Trung tâm giống Thuỷ sản và Trung tâm giống Nông nghiệp - trồng trọt. Mục đích là đưa giống và đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư.

Ngoài ra, Quảng Ninh cũng đang xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, bởi tỉnh có một thị trường rộng lớn là các khu công nghiệp, du lịch và hệ thống bán buôn gồm các siêu thị như Metro, BigC đang hoạt động ở Quảng Ninh. Chúng tôi muốn nhà nước phải đứng ra để chủ trì và làm trọng tài trong khâu tiêu thụ sản phẩm.

Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng đó là phòng chống dịch bệnh và phòng chống thiên tai. Chúng ta có thể đầu tư sản xuất tốt nhưng lại không quan tâm đến khâu phòng và kiểm soát dịch bệnh. Do đó, sự rủi ro là không nhỏ. Quảng Ninh là nơi có cửa khẩu, có giao lưu và hàng hoá luân chuyển qua Quảng Ninh rất lớn. Vì thế, khâu kiểm soát dịch đã được đặc biệt quan tâm, các ổ dịch nhỏ lẻ được dập ngay, không để bùng phát thành dịch lớn.

Trong xây dựng NTM, quan điểm của Quảng Ninh là giảm dần sự đầu tư của nhà nước và huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là tín dụng. Do đó, sự đầu tư giảm dần theo các năm: năm 2011 là 1.500 tỷ, năm 2012 là 500 tỷ, đến năm 2013 chỉ đầu tư 300 tỷ. Nhưng vay vốn tín dụng trong dân lại tăng lên rất cao. Đến hết năm nay, Quảng Ninh có 34/125 xã đạt tiêu chí NTM. Chúng tôi đang quyết tâm đến năm 2015 cơ bản trở thành chương trình xây dựng NTM của tỉnh.

Trong quá trình thực hiện, một số vấn đề đặt ra là sản xuất nông nghiệp nhất thiết phải sản xuất hàng hoá, đó là quan điểm xuyên xuất từ khâu quy hoạch sản xuất, gắn với khoa học công nghệ và tiêu thụ sản phẩm để hình thành chuỗi tiêu thụ sản phẩm. 

Ông Trần Ngọc Thuận, TGĐ Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam: Điều chỉnh lại quy hoạch cao su là cần thiết

Giống như tình hình chung của ngành nông nghiệp Việt Nam, năm 2013 là một năm khó khăn đối với ngành cao su, do biến đổi khí hậu, cơn bão số 10, số 11 đã gây gãy đổ nhiều diện tích cao su ở miền Trung và sự suy thoái kinh tế thị trường khiến giá cao su xuống thấp.

Vừa qua, các đại biểu Quốc hội cũng đặt vấn đề là diện tích cao su vượt quy hoạch theo Quyết định 750 của Thủ tướng Chính phủ. Đứng về góc độ của ngành cao su, chúng tôi nhận thấy việc vượt quy hoạch chủ yếu là do chuyển đổi cơ cấu cây trồng của bà con vùng miền là chính, còn diện tích rừng nghèo chuyển đổi sang trồng cao su là vẫn nằm trong quy hoạch. Do trồng cây cao su trong một giai đoạn dài có hiệu quả, bà con chuyển đổi sang trồng cao su là không khó lý giải.

Do đó, việc điều chỉnh lại quy hoạch trồng cây cao su là rất cần thiết. Điều này liên quan đến quy mô phát triển của cây cao su Việt Nam, cũng như sản lượng và chất lượng.

Năm 2013, sản lượng mủ cao su đạt 950.000 tấn, vượt 8,7% về sản lượng, trong đó XK của 3 năm nay trên 1 triệu tấn, trong đó có phần tạm nhập, tái xuất. Năng suất của cây cao su đứng nhất nhì thế giới, đạt 1,7 đến trên 2 tấn/ha, tuỳ vào vùng sản xuất. Điều này chứng minh việc áp dụng các yếu tố KHKT và công nghệ đã được thực hiện rất tốt.

Giá trị XK cao su năm 2013 của Việt Mam đạt 2,52 tỷ USD, thấp hơn năm 2012 là 300 triệu USD. Tuy nhiên những số liệu về sản phẩm cao su sau chế biến lại tăng trưởng vượt bậc, trở thành điểm sáng của ngành cao su khi đạt 1,1 tỷ USD. Năm 2013, cây cao su đã tạo ra kim ngạch cho đất nước là 4 tỷ USD, đứng thứ 4 thế giới về XK và đứng thứ 5 về diện tích. Trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, ngành cao su đã góp phần ổn định KT-XH.

Hiện thị trường XK cao su của Việt Nam có trên 70 nước. Trước đây XK cao su của nước ta lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc, nhưng đang có xu hướng giảm dần. Trước đây là 60%, nhưng đến năm 2013 chỉ còn trên dưới 40%. Chúng tôi cũng đang tiếp cận những thị trường mới như Ấn Độ, Malaysia, hoặc Indonesia, Nhật, Hàn Quốc và các nước Đông Âu, để giảm tỷ trọng xuất thô vào Trung Quốc trong thời gian tới.

Năm 2014, theo định hướng, các DN trong Tập đoàn sẽ tập trung hoàn thành cao các chỉ tiêu cao hơn năm 2013, với tỷ lệ tăng trưởng phù hợp về sản lượng, quy mô, chất lượng, năng suất, đặc biệt là tiếp tục phát triển cao su ở các tỉnh miền núi phía Bắc và các vùng quy hoạch. Điều rất mừng là vừa qua ở một số tỉnh thành phía Bắc có tuyết rơi, nhưng chúng ta đã có sự chuyển đổi về giống, về cơ cấu và quy trình sản xuất nên thiệt hại từ cây cao su rất thấp. 

Ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp: Thu hút DN đầu tư thông qua CĐML

Năm 2013, sản lượng lúa của Đồng Tháp đạt hơn 3 triệu tấn, tăng 280 nghìn tấn so với năm 2012. Cơ giới hoá đã đạt từ 84% đến 90% ở khâu gặt đập, khâu thuỷ lợi đạt 70%, làm đất đạt 90%. Do đó, sản xuất lúa đã đảm bảo tỷ lệ cơ giới hoá. Trong việc xây dựng CĐML đã đạt được 51.000 ha, trên 145 cánh đồng, trong đó có 6 DN cam kết ký hợp đồng tiêu thụ lúa thông qua các HTX và các hộ nông dân với sản lượng trên 95.000 tấn.

Gần đây, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 62, đây là động lực lớn cho các tỉnh xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML). Các lĩnh vực khác như sản xuất hoa màu, chăn nuôi gia súc gia cầm và thuỷ sản cũng đạt sản lượng ổn định và kim ngạch XK.

Trong xây dựng NTM, Đồng Tháp đã huy động mọi nguồn lực xã hội để đầu tư xây dựng CSHT và các mô hình sản xuất hiệu quả. Năm 2013, Bộ NN-PTNT đã phê duyệt đề án tái tái cơ cấu ngành của Đồng Tháp.

Chúng tôi đã thông qua hội đồng thẩm định để triển khai cụ thể hoá, đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng các mô hình liên kết, từ khâu SX, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm thông qua hợp đồng, trong đó tạo điều kiện thúc đẩy ba tác nhân lớn là: xây dựng các HTX cho vững mạnh; thực hiện thu hút các DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp thông qua việc xây dựng CĐML; xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng theo các mặt hàng chủ lực của Đồng Tháp như lúa gạo, cá tra, cây ăn trái.

Tuy nhiên, vấn đề khó khăn nổi lên của Đồng Tháp trong năm 2013 là khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, đối với các sản phẩm cá tra và lúa có những thời điểm rất khó khăn. Vấn đề quản lý vật tư nông nghiệp, ATVSTP, mặc dù thực hiện rất quyết liệt nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác di dời khu dân cư ở vùng biên giới, vùng ngập lũ, sạt lở gặp nhiều bất cập.

Chúng tôi mong muốn Chính phủ ban hành nghị định riêng về HTX nông nghiệp để hỗ trợ, tạo điều kiện cho HTX nông nghiệp trên tinh thần Luật HTX sửa đổi năm 2012. Để tránh tình trạng sản xuất phân tán nhỏ lẻ, vấn đề quyết định đến tương lai đối với nông nghiệp Đồng Tháp cũng như cả nước phát triển là kinh tế hợp tác, đặc biệt là các HTX nhằm tạo ra sản lượng hàng hoá lớn, chất lượng đồng đều, đáp ứng yêu cầu của thị trường và các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm.

VĂN NGUYỄN - MINH PHÚC

Đang được quan tâm

Gửi bình luận