Thứ tư, 21/11/2018 11:25 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Hiu hắt làng nghề Hà Nội

21/11/2011, 10:16 (GMT+7)

Nhiều làng nghề quy mô sản xuất giảm sút chỉ còn 50% so với trước. Nhiều thợ giỏi, nghệ nhân đã phải bỏ nghề vì thu nhập bọt bèo...

Không còn nhiều lao động gắn bó với nghề thủ công truyền thống

Nhiều làng nghề quy mô sản xuất giảm sút chỉ còn 50% so với trước. Nhiều thợ giỏi, nghệ nhân đã phải bỏ nghề vì thu nhập bọt bèo. Nguy cơ mất nghề truyền thống có thể thấy rõ ở nhiều làng nghề ở Thủ đô.

Sa sút nghề

Ninh Sở, làng nghề nổi tiếng của huyện Thường Tín, nơi từng có đến 90% số hộ sản xuất mây giang đan xuất khẩu tiếng tăm vang xa trên trường quốc tế ngày nào giờ không còn thấy cảnh tấp nập của xe tải chở nguyên liệu và sản phẩm vào ra, cũng không còn cảnh nhà nhà, người người chăm chú vào làm mây giang đan như trước… Thay vào đó là cảnh vắng hiu vắng hắt, đi sâu vào các thôn Xâm Dương, Bằng Sở… lác đác mới có một vài hộ còn làm hàng.

Phó chủ tịch UBND xã Ninh Sở Lê Hồng Lân ngậm ngùi cho biết: "Làng nghề giờ chỉ còn thoi thóp. Ngày công quá rẻ mạt, trông vào nghề có mà chết đói, các hộ làm nghề trước đây, kể cả các nghệ nhân, thợ giỏi cũng đã bỏ nghề cả rồi”.

Cũng theo ông Lân, chỉ những người già hết tuổi lao động, hoặc sức khỏe, trí tuệ kém… mới chịu ở nhà đan lát với ngày công 25-30 ngàn đồng, chứ có sức lao động là họ bươn chải đủ nghề từ chạy chợ, phu hồ, hay làm công nhân trong các nhà máy ngày công khá hơn nhiều. Nếu như cách đây 3-4 năm, cả xã có trên 2.000 hộ tham gia sản xuất mây giang đan thì nay chỉ còn vài trăm hộ; từ 25 hộ đứng ra làm đầu mối thu gom hàng trước đây nay chỉ còn 16 hộ nhưng quy mô đều giảm chỉ bằng một nửa so với lúc nghề thịnh vượng.

Không riêng gì Ninh Sở, cảnh tượng ảm đạm này cũng lặp lại tương tự ở các làng nghề xã Trường Yên, Phú Nghĩa, Đông Phương Yên… huyện Chương Mỹ. Ông Nguyễn Gia Dư, Chủ tịch UBND xã Trường Yên cho biết, nếu như thời hoàng kim, xã có 90% số hộ tham gia vào sản xuất mây giang đan thì nay chỉ còn 40%. Lúc phát triển, địa phương có 30 DN tham gia vào sản xuất, kinh doanh mây giang đan thì nay chỉ còn 10 DN.

Để mục sở thị khó khăn của làng nghề, chúng tôi tới Cty TNHH Mây tre đan Hoa Nam đóng trên địa bàn xã Trường Yên. Nếu như cách đây 3 năm, Cty này có hàng trăm lao động sản xuất tập trung và hàng ngàn lao động vệ tinh tại các thôn trong và ngoài xã thì hiện tại, chỉ còn vẻn vẹn 10 lao động.

Bà Nguyễn Thị Tiến ở xã Đông Sơn làm công nhân tại đây cho biết: “Mỗi ngày công tôi được 50 ngàn đồng, làm ngày nào chấm công ngày ấy, nhưng việc không đều, lúc có lúc không. Bây giờ tuổi cao, tìm việc khó nên tôi phải làm chứ còn trẻ họ bỏ đi làm nghề khác hết”.

Chương Mỹ là huyện dẫn đầu thành phố về số làng có nghề và làng được công nhận làng nghề với tổng số 33 làng, chiếm 70% số đó là làng nghề sản xuất mây giang đan xuất khẩu. Theo ông Đào Xuân Hà, Phó phòng Kinh tế huyện, chưa bao giờ làng nghề mây giang đan lại èo uột như lúc này. Chỉ trong vòng 3 năm nay, sản xuất mây giang đan của huyện đã giảm 50% cả về giá trị và sản lượng, 50% DN hoạt động trong lĩnh vực này bị phá sản hoặc chuyển đổi sang sản xuất, kinh doanh các mặt hàng khác…

Lối ra xa thẳm

Làng nghề mây giang đan bị “tuột dốc không phanh” bởi phải đối mặt với hàng loạt các khó khăn như: thiếu vốn, nguyên liệu, giá nhân công cao... và đặc biệt là thị trường xuất khẩu thu hẹp, không tìm được đầu ra cho sản phẩm.

Ông Bùi Văn Việt, một chủ DN xuất khẩu mây giang đan thôn Yên Trường, xã Trường Yên không ngần ngại cho biết, hầu hết sản phẩm mây giang đan của các làng nghề Hà Nội là xuất khẩu nhưng nhiều DN đã bị mất bạn hàng xuất khẩu do đối tác gặp khó khăn về kinh tế; do sản phẩm không cạnh tranh được với sản phẩm cùng loại của các nước khác như Thái Lan, Trung Quốc; trong khi đó DN của ta lại không tìm được các đối tác mới…

Ông Hoàng Xuân Thủy, Giám đốc Trung tâm Khuyến công, Tư vấn và Phát triển công nghiệp (Sở Công thương Hà Nội):

Để hỗ trợ các làng nghề, Trung tâm đã tăng cường triển khai các lớp đào tạo: truyền nghề, nhân cấy nghề, tập huấn thiết kế mẫu mã sản phẩm… Đặc biệt là đưa DN mây giang đan, sơn mài và gốm sứ tham dự các hội chợ xúc tiến thương mại trong và ngoài nước nhằm tìm đầu ra cho sản phẩm.

Từ đầu năm tới nay, Trung tâm đã tổ chức 3 đoàn với 25 DN tham gia 2 hội chợ trong nước và 1 hội chợ quốc tế tại Đức. Tuy vậy các làng nghề ở Thủ đô cần hơn nữa những giúp đỡ thiết thực trong bối cảnh khó khăn, đầu ra ế ẩm, cơn bão “tín dụng đen” quét xơ quét xác nhiều vùng quê.

Không xuất khẩu được hàng, nguồn vốn bị tồn đọng, nhiều DN phải vay vốn chịu thêm khoản lãi suất ngân hàng tăng cao nên rơi vào thua lỗ nặng. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất của nhiều làng nghề ngày càng khan hiếm và không thể chủ động được.

Ông Hà so sánh, nếu trước đây, nguyên liệu phục vụ các làng nghề trên địa bàn huyện được nhập về từ tỉnh Hòa Bình theo Quốc lộ 6 chỉ trong bán kính trên dưới 100km thì nay, các hộ làng nghề phải bươn chải khắp Lai Châu, Lào Cai, Nghệ An, thậm chí sang cả Lào để thu mua song, mây, tre, nứa… vừa mất thời gian, chi phí vận chuyển lại cao gấp 3-4 lần… đội giá thành sản phẩm lên cao. Và rất nhiều, rất nhiều những khó khăn khác…

Không chỉ làm thiệt hại về kinh tế cho làng nghề và đời sống người dân mà việc suy giảm này còn tiềm ẩn nguy cơ xóa sổ nhiều làng nghề. Thực tế, để bù đắp cho chi phí sản xuất cao, đảm bảo lợi nhuận, nhiều hộ làm nghề đã sẵn sàng làm hàng chất lượng thấp, bớt xén vật liệu như: giảm độ dày của nan, kỹ thuật đan ghép mỏng, ẩu, ảnh hưởng đến thương hiệu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trên thị trường thế giới.

Sản xuất èo uột, người thợ cũng ít có cơ hội để trình diễn tay nghề; lao động bỏ nghề cũng sẽ làm mất đi đội ngũ nghệ nhân, thợ giỏi - tinh hoa của các làng nghề. Ở nhiều làng nghề, người dân đã bắt đầu lo lắng về nguy cơ mai một các làng nghề truyền thống.

VÂN ĐÌNH

Đang được quan tâm

Gửi bình luận