Đường dây nóng : 091.352.8198

Câu chuyện giữa rừng giáng hương

Ngay từ những ngày đầu mùa khô Tây Nguyên này, tôi ngược đường biên giới, thẳng tiến về huyện Đức Cơ với hy vọng tận mắt chiêm ngưỡng rừng gỗ hương cuối cùng còn sót lại nơi vùng đất cực tây Gia Lai này.

Câu chuyện giữa rừng giáng hương
Tác giả bên cây giáng hương cổ thụ
Tin bài khác

LẠC LÕNG TRÊN… ĐẤT CỦA MÌNH

Đến đầu thị trấn Chư Ty (huyện Đức Cơ), rời quốc lộ 19, tôi rẽ vào con đường dẫn về xã Ia Kriêng. Hai bên đường là bạt ngàn cao su, cứ ngỡ như chỉ duy nhất cây cao su đã có ở đây tự ngàn đời.

Ghé vào UBND xã Ia Kriêng, Bí thư Đảng ủy xã Siu Mế (người dân tộc J’rai) pha trà mời và vui vẻ trò chuyện. Khi tôi hỏi về rừng gỗ hương còn sót lại trên địa bàn xã, ông nói: “Cả xã này, ai mà không biết đến khu rừng quý ấy. Nhưng biết rõ nhất vẫn là già làng Grông. Để tôi đưa anh vào gặp ông ấy”.

6 km nữa để đến làng Grông. Trên xe, Bí thư Siu Mế kể chuyện về xã mình. Theo ông thì nơi mà chiếc xe đang lăn bánh, trước kia là rừng nguyên sinh với rất nhiều loại gỗ quý đặc trưng của vùng tây Trường Sơn như giáng hương, trắc, cẩm chỉ, bằng lăng… Chiến tranh đã lấy đi phần lớn diện tích rừng quý hiếm nơi đây. Tuy nhiên sau năm 1975, vùng đất biên giới miền tây Gia Lai này vẫn còn nhiều rừng lắm.

Chưa hết câu chuyện, chúng tôi đã đến làng Grông - ngôi làng J’rai bây giờ chỉ toàn nhà xây với mái tôn, mái ngói. Hôm nay, già làng Puih Bưa không đi rẫy. Ông tiếp khách theo truyền thống của người J’rai và thong thả trò chuyện. Hơn bảy mươi tuổi, tuy đã móm mém nhưng vóc dáng ông còn khỏe lắm.

Ông kể: "Người J’rai sinh sống ở đây tự thuở khai thiên lập địa, đều dựa vào rừng. Rừng cho họ cái ăn cái mặc, cho con cá dưới sông, cho con nai con hoẵng trong rừng; rừng cho họ cây gỗ quý để làm mái nhà rông cong vút, cho cái thứ lá làm men rượu cần uống đến mềm môi, rừng còn cho người J’rai nơi đây những câu chuyện cổ đẹp đến ngàn đời…".

Những năm 1990 của thế kỷ trước, làn sóng dân di cư tự do tràn vào Tây Nguyên, đã lấy đi không ít khu rừng quý nơi đây. Thêm vào đó là phong trào chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây cao su nên trên địa bàn xã, rừng tự nhiên gần như đã bị xóa sổ.

Năm 1997, trong lúc công nhân đang khai hoang rừng để trồng cao su, người dân làng Grông và làng Gà thấy khoảnh rừng gỗ quý nằm giữa hai làng sắp bị phát trắng, bèn báo lên ủy ban xã, đề nghị giữ lại khoảnh rừng này. Lãnh đạo xã báo cáo lên huyện Đức Cơ, vậy là, khu rừng 3,8 ha được gìn giữ đến ngày hôm nay.

Từ làng Grông vào khu rừng gỗ quý, chúng tôi lại xuyên qua bạt ngàn cao su- rừng cao su gần 20 năm tuổi đang chuẩn bị bước vào mùa thay lá. Đang đi, Siu Mế đập vai tôi, chỉ về phía trước, nơi có một khoảng xanh đặc trưng của rừng nguyên sinh, nói: “Rừng hương đấy!”.

Khu rừng tự nhiên gần 4 ha nằm lọt thỏm, lạc lõng giữa bạt ngàn cao su, có cảm giác như chính nó sống nhờ vào cây cao su trên mảnh đất này vậy.

CÒN MỘT CHÚT NGUYÊN SINH

Căn nhà xây, mái lợp tôn diện tích vài chục mét vuông nằm giữa khu rừng hương nguyên sinh. Đây là căn nhà mà huyện Đức Cơ đã trích ngân sách làm nên để cho hai người đàn ông tự nguyện giữ khu rừng này có nơi ăn chốn ở. Đó là sau này thôi, còn khi mới có quyết định giữ lại khu rừng này, xã giao cho nhân dân 2 làng Grông và làng Gà cắt cử nhau trông coi, vừa để bảo vệ khu rừng thoát khỏi những lưỡi cưa “lâm tặc”, vừa phát dọn và phòng cháy…

Đến năm 2011, xã khoán hẳn cho hai bảo vệ ở hẳn trong ngôi nhà này, làm công tác giữ rừng. Rơ Ma Kem (dân tộc J’rai ở làng Grông) và anh Nguyễn Hữu Mạnh (quê Hải Dương, hiện đang ở làng H’rang, xã Ia Kriêng) tự nguyện nhận lãnh trách nhiệm này.

Suốt gần một buổi sáng, anh Mạnh và anh Kem dẫn tôi dạo trong khu rừng nguyên sinh. Đã đi hầu khắp Tây Nguyên nhưng thú thật, ở thời điểm rừng hiếm hoi như bây giờ, được đi dạo giữa khu rừng nguyên sinh với điệp trùng gỗ nhóm một, cứ ngỡ như đang đi giữa đại ngàn Tây Nguyên thuở hoang sơ.

Bây giờ đang là đầu mùa khô Tây Nguyên. Gió lồng lộng. Gió đưa những hạt của quả hương rơi về đất, để cho những mầm non tiếp tục đâm chồi. Già làng Puih Bưa nhặt một nắm hạt quả hương đưa cho tôi, nói: “Mong sao rừng hương này tiếp tục được giữ gìn, được sinh sôi nảy nở để con cháu đời sau biết thế nào là cây gỗ quý, thế nào là cội nguồn!”.

Mấy năm làm công tác giữ rừng, anh Mạnh và anh Kem thuộc khu rừng này như thuộc chính bàn tay mình. Hằng ngày, hai anh cầm dao đi dạo trong rừng, phát dọn vệ sinh cho rừng, đếm từng cây gỗ trên diện tích gần 4 ha này.

Rơ Ma Kem nói: “Khu rừng này còn sót lại đúng một cây gỗ trắc, còn lại chủ yếu là gỗ giáng hương với trên 2.000 cây. Nếu tính cây hương có đường kính từ 3 tấc đến 6 tấc thì có khoảng 1.200 cây. Còn lại là một ít gỗ tạp”.

Do mọc chen chúc nhau nên những cây gỗ hương nơi đây hầu hết đều thẳng tắp và cao vút, có những cây cao đến gần 50 m, phủ tán lá mát rượi và làm nơi trú ngụ cho nhiều loài chim.

Anh Mạnh chỉ những cái hố to đã kịp mọc lại cỏ xanh, nói: “Cách đây mấy năm, khi đang thi công quảng trường Đại Đoàn Kết ở thành phố Pleiku, dân làng Grông đã tự nguyện hiến tặng 20 cây gỗ hương, đường kính 15 đến 20 cm, đem về trồng quanh tượng Bác Hồ ở quảng trường, xem như món quà của dân làng dâng lên Người” (bây giờ, 20 cây gỗ hương ấy đang sống xanh tốt, là nơi bay về của nhiều loài chim quý ngay giữa lòng thành phố- PV).

Quay lại căn nhà giữ rừng, anh Mạnh pha ấm chè Bắc vừa gửi vào mời khách. Anh cho biết: "Đây là chút nước mưa cuối cùng của mùa mưa Tây Nguyên. Hóa ra ở đây, mùa mưa các anh phải hứng nước mưa để ăn uống, còn mùa khô thì vài ngày phải về làng, chở từng can nhựa đựng nước vào đây để nấu cơm, pha trà, còn tắm giặt thì… “trông cho suối không cạn nước”, anh Mạnh nói.

Hỏi về những khó khăn, hai anh cho biết: Ở đây ngoài hai anh, bà con 2 làng đều tham gia giữ rừng, hễ có người lạ vào là dân làng phát hiện và báo ngay (thảo nào lúc đang đi dạo trong rừng, anh Mạnh nhận một cuộc điện thoại của một người tên Khương- cán bộ kiểm lâm địa bàn, nói rằng nhân dân vừa báo có người lạ vào rừng, anh Mạnh nói là nhà báo, do Bí thư Đảng ủy Siu Mế đưa vào).

Cuộc sống cũng tạm ổn bởi ngoài việc tranh thủ làm kinh tế gia đình, mỗi người còn được phụ cấp 2 triệu đồng/tháng. Ở đây còn nuôi được gà, lợn, trong rừng cũng có lá để nấu canh chua… Tuy nhiên sinh hoạt của hai anh thì vẫn rất thiếu thốn. Cần nhất vẫn là một cái giếng để khỏi phải về làng chở nước, đường điện phục vụ sinh hoạt và một vài công cụ hỗ trợ, phòng khi có kẻ xấu đột nhập.

Một vài mong ước nho nhỏ như vậy để gìn giữ một khu rừng quý hiếm hoi còn sót lại- là linh hồn của người Tây Nguyên, là một nơi du lịch lý tưởng cho những ai muốn có thêm hiểu biết về rừng- có lẽ cũng không là quá với chính quyền địa phương.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
Trần Đăng Lâm
Bình luận Gửi phản hồi