Chủ nhật, 25/02/2018 11:00 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Không nên tùy tiện nạo VA

23/06/2011, 11:08 (GMT+7)

VA có từ lúc trẻ mới sinh nhưng rất nhỏ. Từ 6 tháng tuổi, VA phát triển dần theo nhiệm vụ miễn dịch. Đến 9 – 10 tuổi VA teo dần và chỉ còn vết ở tuổi dậy thì.

VA là mô tân bào gồm nhiều tế bào bạch cầu. Nó nằm ở nóc vòm họng, sau cửa mũi sau. Khi thở vào, không khí vào mũi, qua VA rồi vào phổi. Bình thường, VA có kích thước rất nhỏ, dày khoảng 4 – 5mm, không cản trở đường thở. 

VA có từ lúc trẻ mới sinh nhưng rất nhỏ. Từ 6 tháng tuổi, VA phát triển dần theo nhiệm vụ miễn dịch. Đến 9 – 10 tuổi VA teo dần và chỉ còn vết ở tuổi dậy thì.

Nhiệm vụ của VA

VA có nhiệm vụ miễn dịch, nhận diện vi khuẩn để tạo ra một chất gọi là «kháng thể», chất này sẽ tiêu diệt vi khuẩn khi chúng tái xâm nhập. VA hợp với một số mô tân bào khác có cùng nhiệm vụ miễn dịch để thành lập một vòng, gọi là vòng Waldeyer. Vòng Waldeyer gồm có VA, amidan vòi, amidan hầu, amidan lưỡi. Quan sát kỹ, ta thấy vòng này bao chung quanh đường thở và đường ăn. Tất cả các vi khuẩn vào từ mũi (đường thở) và từ miệng (đường ăn) đều phải xuyên qua vòng này.

Nhiệm vụ miễn dịch của VA: Khi không khí chứa vi khuẩn vào mũi, đi ngang qua VA trước khi vào phổi, vi khuẩn sẽ bám vào VA dễ dàng nhờ diện tiếp xúc rộng của VA. Các tế bào bạch cầu chờ sẵn, khi có vi khuẩn, bạch cầu sẽ «bắt» vi khuẩn và lôi chúng vào sâu, nơi có nhiều hạch để nhận diện vi khuẩn và tạo ra một chất gọi là kháng thể chống lại vi khuẩn. Kháng thể này được nhân rộng và toả đi khắp nơi, đặc biệt nhiều nhất là ở vùng mũi họng. Khi có vi khuẩn xâm nhập, các kháng thể này sẽ tự động vô hiệu hoá vi khuẩn và tiêu diệt ngay, trước khi chúng kịp sinh sôi và gây tác hại.

Triệu chứng viêm VA 

 VA thường xuyên tiếp xúc với vi khuẩn. Với tiếp xúc này, VA thường bị viêm nhưng rất nhẹ, không ảnh hưởng đến sức khoẻ cơ thể. Tuy nhiên, khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu, vi khuẩn tràn ngập quá nhiều sẽ xâm nhập toàn bộ VA. Lúc này, nếu bạch cầu không đủ sức «bắt» tất cả các vi khuẩn, chúng sẽ bám và cư trú tại VA sinh sôi nảy nở và gây viêm VA – viêm bệnh lý. Khi VA bị viêm, trẻ sẽ bị sốt, có thể lên tới 38 – 39oC. Ở trẻ thiếu sức đề kháng ngoài sốt, trẻ còn có thể bị rối loạn tiêu hoá (nôn trớ, tiêu chảy, đau bụng...) và động kinh.

Triệu chứng do khối VA quá phát 

Nếu viêm VA kéo dài, thể tích của VA sẽ tăng lên và ngăn cản không khí ra vào, khiến trẻ bị nghẹt mũi. Lượng nước có ở mũi không được bốc hơi đọng lại ngày càng nhiều và chảy ra phía trước gây chảy mũi trong. Nếu tình trạng nghẹt mũi kéo dài, vi khuẩn cộng sinh trong mũi sẽ trở thành vi khuẩn gây bệnh. Nước mũi trong trở thành nước mũi đục và chảy ra rất nhiều sau đó nước mũi trở thành màu xanh.

Nếu VA to, không khí vào ít, không cung cấp đủ oxy cho cơ thể, trẻ sẽ trở nên lờ đờ, phối hợp với nghe kém, việc học tập của trẻ sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều. Vì thiếu oxy nên trẻ ngủ không yên giấc, hay giật mình và mệt mỏi sau khi ngủ. Ban ngày thì lờ đờ, ngủ gà ngủ gật. Ban đêm thì ngủ không ngon. Trong trường hợp có viêm xoang kèm theo, nước mũi chảy ra như mủ.

Biến chứng của viêm VA 

- Viêm mũi: Chảy mũi đục, nghẹt mũi, nhức mũi.

- Viêm xoang: Chảy mũi như mủ, nhức vùng má.

- Viêm tai giữa thanh dịch: Nghe kém, màng nhĩ không thủng.

- Viêm tai giữa cấp: Sốt, nhức tai, nghe kém sau đó chảy mủ tai, thủng nhĩ.

- Viêm amidan: 2 amidan to, nuốt khó, nuốt vướng, thỉnh thoảng lên cơn bột phát cấp.

- Viêm thanh quản: Khó thở, ho, khàn tiếng, dễ dẫn đến tử vong.

Khi nào nên nạo VA?

 Chú ý không nên nạo VA bừa bãi, chỉ nạo trong các trường hợp sau:

- VA quá to, gây nghe kém, viêm tai giữa cấp

- Viêm VA có một trong các biến chứng: Viêm amidan, viêm thanh quản cấp, rối loạn tiêu hoá, không tăng trọng.

VA chỉ được nạo khi có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

QUỐC TRUNG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận