Đường dây nóng : 091.352.8198

Nơi đất cao, trời thấp

Đỉnh Chiêu Lầu Thi được ví như “nóc nhà thứ 3 của Việt Nam” nằm giáp ranh giữa hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì (Hà Giang), nằm ở độ cao 2.412 m so với mực nước biển (chỉ thấp hơn đỉnh Tây Côn Lĩnh và Phan Xi Păng), ẩn chứa những câu chuyện ly kỳ và thú vị khiến nhiều người phải ngỡ ngàng.
Tin bài khác

Đỉnh Chiêu Lầu Thi được ví như “nóc nhà thứ 3 của Việt Nam” nằm giáp ranh giữa hai huyện Xín Mần và Hoàng Su Phì (Hà Giang), nằm ở độ cao 2.412 m so với mực nước biển (chỉ thấp hơn đỉnh Tây Côn Lĩnh và Phan Xi Păng), ẩn chứa những câu chuyện ly kỳ và thú vị khiến nhiều người phải ngỡ ngàng.

Gia tộc phú quý giữa mây mù

Nghề chạm bạc đã mang vinh hoa phú quý đến gia tộc họ Lù ở thôn Đông Chứ 1, xã Ngán Chiên, huyện Xín Mần. Và đến lượt mình, lớp lớp các thế hệ con cháu nguyện “sinh nghề tử nghiệp” để trả ơn tiên tổ.

Cả gia tộc cùng làm một nghề

Đứng ở trung tâm xã Ngán Chiên nhìn xuống, có thể thấy hàng chục đỉnh đồi, núi lớn nhỏ lô nhô xếp tầng lên nhau. Ông Xìn Đức Việt, Phó Chủ tịch UBND xã Ngán Chiên, khoe rằng, địa phương có hẳn một thôn toàn người giàu. Ông Việt đích thân dẫn phóng viên đến thôn Đông Chứ 1, nơi có gia tộc họ Lù sinh sống từ nhiều đời.

Giao thông ở Ngán Chiên rất tệ, chủ yếu vẫn là đường đất, nhiều đoạn bị nước suối cắt ngang chưa có cầu, xe máy lao xuống là chết máy, phải nhờ (thuê) dân bản địa khênh qua. Thế mà họ Lù ở thôn Đông Chứ 1 đã tự bỏ tiền làm một tuyến đường bê tông ra đến tận UBND xã.

Tôi ghé vào ngôi nhà sàn khang trang đầu tiên được dựng bằng gỗ nghiến bào bóng nhoáng. Ông Lù Sào Tin (63 tuổi) dáng người thanh mảnh đang ngồi bên lò than hồng rực lửa, tay phải nắm một thanh sắt nhỏ gắn với khúc gỗ rỗng bịt kín hai đầu, hết kéo ra lại đẩy vào như người cầm cưa để tạo gió thổi than cháy nỏ; tay trái cầm chiếc kìm sắt kẹp một chén đất nung chứa những mảnh bạc vụn màu xám đục hơ trên lửa. Sau khi những mảnh bạc bị nung chảy, ông nâng chén lên trước ngực, phùng miệng lấy hơi rồi thổi bay lớp màng tro nổi lềnh phềnh trên bề mặt tạo ra những tia sáng như pháo bông đang cháy.


Các thành viên trong gia tộc họ Lù tự hào vì nghề truyền thống của gia đình

Người thợ chạm bạc lật một viên gạch đất đã khoét rãnh ở giữa, từ từ nghiêng chén rót bạc vào đó, trong nháy mắt, chất lỏng màu đỏ chuyển thành một thanh bạc thon như cây bút chì trắng muốt. Dội gáo nước cho hạ nhiệt, ông Tin cầm thanh bạc đặt lên một tảng sắt, cứ thế dùng búa nện thành một dây bạc dài thuồn thuột. “Từ dây bạc này, tôi có thể kéo thành sợi chỉ, sợi tóc nhờ tấm kẽm đục nhiều lỗ có kích cỡ khác nhau. Nhiều người học cả đời cũng không làm được kỹ thuật này đâu”, ông Tin khoe.


Ông Lù Sào Tin ghép các chi tiết bạc lại với nhau

Không để lỗi

Ông Tin bảo: "Thôn Đông Chứ 1 có 14 hộ thì tất thảy đều là con cháu gia tộc họ Lù. Nghề chạm bạc đã có từ đời cụ nội tôi, đến lớp lớp các thế hệ con cháu tiếp nối, ai cũng giữ nghiệp tiên tổ truyền lại".

Những thành viên của gia tộc họ Lù ở Đông Chứ 1 vẫn tự hào rằng, ở đâu có người Nùng thì ở đó có sản phẩm trang sức của gia đình mình chế tác. Không chỉ dân buôn vàng bạc ở Hà Giang, mà các tỉnh lân cận như Tuyên Quang, Yên Bái, Cao Bằng, Lào Cai… cũng tìm đến đặt hàng.

Người Nùng quan niệm, bạc là hiện thân của tình yêu vĩnh cửu, vì thế, trong những đám cưới hỏi, trên người cô dâu có nhiều trang sức bằng bạc, từ chiếc khuy, đồng xu đính trên áo, đến bộ xà tích lúc lắc cạp quần, đôi lắc tay to như quai đồng hồ trên tay và 4 - 5 chiếc dây chuyền to nhỏ với những hình thù khác nhau lủng lẳng trước ngực…

Mỗi họa tiết đều mang một ý nghĩa riêng, thể hiện văn hóa của người Nùng từ nếp nghĩ đến sinh hoạt đời thường. Ví dụ, chim bồ câu tượng trưng cho khát vọng hoà bình; rồng - phượng tượng trưng cho cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; đồng bạc thể hiện ước vọng đổi đời và những dây chuyền ghép từ những mắt xích là hiện thân của tinh thần gắn kết cộng đồng… Ông Tin cho biết, một bộ trang sức của cô dâu phải mất từ 1 - 1,5 kg bạc trắng, tùy vào điều kiện của mỗi gia đình. Và đó cũng là số tiền mà nhà gái thách cưới nhà trai.

“Đồ trang sức của gia tộc tôi là thứ hàng độc nhất vô nhị, chẳng ai có thể nhái được. Bởi chúng tôi được tổ tiên truyền lại hàng trăm khuôn đúc mang hình thù khác nhau, tinh xảo đến mức nhiều chi tiết phải soi kính lúp mới nhìn thấy. Và khoảng 90% họa tiết được đục, uấn, giũa, cắt và hàn… bằng tay. Có những đồ trang sức, chỉ cần lỗi một họa tiết, chúng tôi sẵn sàng đập bỏ và nung lại, tuyệt đối không bán hàng lỗi. Trong quy tắc nghề nghiệp của dòng họ quy định không ai được uống rượu trước và trong giờ làm việc”, ông Tin tiết lộ.


Họ Lù ở thôn Đông Chứ được thừa hưởng bộ khuôn đúc bạc quý giá tổ tiên để lại

Có lẽ, vì cảm mến tính tỉ mẩn và cầu toàn đầy trách nhiệm đối với từng sản phẩm của thợ kim hoàn họ Lù mà người ta chấp nhận vượt bao ngọn đồi, quả núi tìm đến vùng đất giữa mây mù đặt hàng. Tiền bạc, giàu sang được sinh ra từ đó. Vào ngày mồng 1 hàng tháng, gia tộc họ Lù lại giết lợn béo, dê đực, gà, ngan, ngỗng… bày mâm cao cỗ đầy họp mặt các thành viên. Nếu nhìn thấy cuộc sống sung túc ấy, có lẽ nhiều gia đình ở phố thị cũng thấy thèm thuồng.

Ước mơ một làng nghề

Nghề chạm bạc đã mang vinh hoa cho những người thợ kim hoàn họ Lù, nhưng để tạo ra những món đồ trang sức tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ hơn cả hạt cát, lóng lánh ánh kim, họ đã lao động mệt nhọc đến đổ mồ hôi, sôi nước mắt.


Bạc là vật trang trí bắt mắt nhất trong trang phục của cô gái người Nùng

Ông Tin chia sẻ: Muốn nung những mảnh bạc vụn tan chảy và đổ thành một khối để chế tác, người chạm bạc phải có được những hòn than cháy nỏ, lâu tàn và sinh nhiệt cao. Ở dưới xuôi, người ta dễ dàng mua than đá với giá bèo bọt, nhưng Ngán Chiên là xã “cùng trời”, đường đi hiểm trở, vận chuyển than lên để làm thì sạt nghiệp.

Sống trên núi, đương nhiên phải lấy củi đốt than, nhưng chỉ những cây gỗ cứng mọc tít trên đỉnh Chiêu Lầu Thi cao hơn 2.000 m mới tạo ra chất than thượng hạng để nung bạc. Vào mùa hạ, trang sức bán chậm, khi mặt trời còn trốn sau đỉnh núi, ông Tin và người con trai Lù Văn Chưởng lại lục tục dậy, đeo trên người lủng lẳng cơm nắm, dao dựa, bạt ni lông… leo qua những con dốc dựng ngược lên đỉnh núi tìm cây chết khô xếp lại thành đống, sau đó đốt cháy thành than. Vì đường sá xa xôi, hai bố con phải lợp lều ngủ lại giữa rừng chờ sáng hôm sau đúc than vào bao tải vác xuống núi. Chuyện trượt chân ngã toé máu là chuyện thường.

Với những người thợ chạm bạc ở thôn Đông Chứ 1, 24 giờ một ngày là quá ít. Bởi “làm bừa, làm ẩu để kiếm tiền là bất nhân, bất hiếu với tổ tiên bao đời gìn giữ, phát triển nghề; giao hàng chậm là bất tín với khách hàng”. Vì thế, họ bắt đầu công việc trước bình minh và chỉ ngừng tay khi ánh trăng đã vượt lên đỉnh núi cao nhất.

Ông Tin và tất cả thành viên trong gia tộc họ Lù vẫn ngày ngày chờ đợi giây phút được treo tấm bảng ghi dòng chữ “Làng nghề chạm bạc Đông Chứ 1" trước cổng thôn. Và, mong mỏi ấy sắp trở thành hiện thực khi chính quyền xã Ngán Chiên đang dốc sức hoàn thiện những thủ tục cuối cùng để công nhận làng nghề chạm bạc tại địa phương.

Share Facebook Share Google Share Twitter Share Zingme  
phùng minh phúc
Bình luận Gửi phản hồi