Thứ hai, 20/08/2018 11:50 GMT+7

Hotline: 091.352.8198

Cô gái Đô Lương

27/04/2012, 22:56 (GMT+7)

Chúng tôi xin giới thiệu một trong những chân dung người con gái Truông Bồn đã hy sinh vì Tổ quốc.

(Tưởng nhớ những người con gái Truông Bồn)

LTS: Nhà văn Trần Huy Quang vừa trở lại vùng chiến trường xưa đường 15, Đèo Ngang, Đồng Lộc và Truông Bồn, ông đã hoàn thành tập ký sự “Thánh ca Truông Bồn”(Nxb Phụ nữ 2012), viết về những cô gái và các chàng trai TNXP chiến đấu anh dũng ở Truông Bồn vào thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến, năm 1968. Chúng tôi xin giới thiệu một trong những chân dung người con gái Truông Bồn đã hy sinh vì Tổ quốc. 

Tượng đài chiến thắng Truông Bồn

Mẹ Văn khi còn sống thường kể con bé Văn đến là chịu khó, tham việc, tý tuổi đầu nhưng việc gì cũng làm. Mẹ đẻ Văn vào tháng 8, ngày 11, năm Dần, đang mùa làm cỏ cho lúa, nắng tháng 8 gắt và nồng, nước sông Lam lăn tăn xanh màu lá cây. Năm ấy, Đô Lương vùng tự do Khu Bốn, là nơi các cơ quan dân chính tỉnh đóng, cả dân thành phố Vinh gồng gánh bế bồng nhau tản sư lên Lường. Văn là con gái đầu, là đầu sai của cha mẹ. Cha mẹ đi làm đồng, mọi việc to nhỏ từ quét nhà, quét sân, cho lợn gà ăn, kiếm củi, rồi lên ba đã phải vẹo hông bồng em. Khi Văn lên mười thì đã có cả một bầy em. Em trai kế Văn là Võ, nay vẫn ở quê thờ chị. Em trai sau Võ là Lực, hiện làm ăn ở Đắc Lắc. Một em gái sau nữa là o Chương lấy chồng trong làng. Mấy em sau lớn lên không đứa nào là không qua tay chị Văn bế ẵm. Vừa bồng em, vừa đi học, nhà không dư dả gì, cha mẹ suốt ngày chạy theo công điểm hợp tác xã mà vẫn thiếu ăn. Văn học không hết cấp 2 thời đó.

Nhà Văn ở xóm Lâm Đức xã Thượng Sơn, một vùng quê yên ả và đẹp. Ngày đi học cấp 2, nửa ngày đi học, nửa ngày Văn và bạn bè rủ nhau lên rú Dự hái củi hoặc ra đồng Cuốc Bàn bứt cỏ cho trâu bò. Đồng Cuốc Bàn thoai thoải, có những ngọn đồi nhỏ lúp xúp cây dại, giữa đồng ngày xưa có cây đa và cái miếu hoang. Tuổi thơ của Văn lớn lên trong màu xanh mướt mát của cánh đồng ngô được bao bọc bởi dòng nước trong veo của Bầu Cầu, trooc Sói và âm thanh của đập nước Tích Tích đổ vào mương đều đều không dứt cả trong giấc mơ tuổi ấu thơ của Văn.

Thế rồi chiến tranh, rồi máy bay Mỹ dọc ngang trên bầu trời, bom và rocket đã nổ trên những cánh đồng ngô đang ra hoa. Những đứa con trai mười tám, đôi mươi của làng Thượng Sơn đua nhau ra trận. Con trai ra trận vào chiến trường gần hết thì đến lượt con gái cũng ra trận. Năm ngoái đã có một đợt tuyển thanh niên xung phong, các chị lớn tuổi hơn Văn đã đi, nơi các chị làm là những con đường bom đạn nổ suốt ngày, khói bom dâng cao lên nửa tầng trời. Thư các chị gửi về, ai cũng đầy tự hào là đã góp phần mình vào cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Khi Văn cùng với bạn bè đang náo nức vì câu thơ, những lời ca thúc giục ra trận góp sức mình vào cuộc chiến đấu vì độc lập thì có đợt tuyển thanh niên xung phong nữa của năm 1966. Ước mơ của Văn và bạn bè được dịp bùng cháy.

Năm ấy Văn mới 17 tuổi, tính cả tuổi mụ, tuy vất vả đồng áng nhưng cô thiếu nữ Đô Lương lúc nào đôi má cũng hồng rực và ánh mắt long lanh như cười. Nhập ngũ thanh niên xung phong là ao ước thiết tha của Văn, đi cho biết đó biết đây, tuổi còn trẻ sợ chi gian khổ. Vác đạn, đào hầm, sửa đường, khi cần cầm súng, những việc ấy Văn đâu có ngại. Đi để cống hiến, đi những khi Tổ quốc cần, đó không những là mơ ước của tuổi mới lớn lên như Văn mà đó còn là phẩm chất con người, danh dự làm người. Chỉ có điều, Văn đi, mọi việc ai sẽ đỡ đần cho mẹ? Văn là con gái lớn, như cánh tay phải của mẹ. Mẹ có làm đồng về muộn thì Văn cơm nước giặt giũ, lợn gà, bảo ban em út. Nuôi con lớn 17 tuổi, nhất là con gái thì người mẹ đã nhờ được rồi. Nếu Văn theo tiếng gọi của đảng mà ra trận thì sẽ một mình mẹ gánh vác tất cả, mọi công việc từ to đến nhỏ sẽ dồn lên vai mẹ. Thương mẹ mà không biết làm sao, đã làm cho Văn bần thần cả buổi chiều.

Hai mẹ con ngồi ngoài sân nói chuyện với nhau hết cả buổi tối, mẹ sụt sùi, còn Văn cũng lã chã nước mắt. Mẹ bảo, vì đất nước mẹ cho con đi chứ trong lòng mẹ rã rời vì con. Con gái 16 tuổi vừa hết tuổi nhảy dây, chơi ô, đã biết gì, làm sao mà ra chỗ bom đạn được hả con? Con bé bỏng thế, có biết nơi bom đạn là thế nào không con? Nhưng Văn không lo nhiều như mẹ, như bố, Văn như con sáo sổ lồng, hớn hở lên đường, phía trước là gì, nơi mình dấn thân là gì, không cần biết.

Đội văn nghệ này là các anh, chị em được lựa chọn chủ yếu từ các cây văn nghệ của  các đội TNXP. Họ đều là những người rất trẻ trên dưới 20 tuổi và đa phần là con gái  Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An

Khi người tuyển quân thấy cô gái sức vóc nhỏ bé, nhìn vào hồ sơ thì em mới hơn 16 tuổi, liền bảo em về đi học, đợi sang năm đủ lớn hãy đi. Văn không chịu, Văn kéo các bạn lại để cho vững tâm và bảo, đây không phải là dân công hay nghĩa vụ mà phải bắt đủ 18, em 17 tuổi em tình nguyện xin đi đánh giặc. Anh không biết con gái 17 bẻ gãy sừng trâu à? Nghe Văn nói quyết liệt quá, các bạn cười ồ làm cho người cán bộ Huyện Đoàn cũng xiêu lòng. Thế là Văn lên đường, ngày 30 tháng 10 năm 1966, mũ cối, ba lô con cóc và áo xanh màu lá cây, chính thức đứng trong hàng ngũ thanh niên xung phong, đội quân lớn lao ấy mà hầu hết là con gái 17, 18 tuổi, đã hiên ngang chiến đấu với bom đạn, với rocket bằng tay không, bằng cuốc xẻng và quang gánh, bám trụ ở những trọng điểm ác liệt nhất, có mặt ở những thời điểm khủng khiếp nhất, ra mặt đường bất kể lúc nào hễ có bom rơi, có xe cháy, có tắc đường.

Đại đội thanh niên xung phong của Văn năm ấy toàn thanh niên Đô Lương, nhiều nhất là những cô gái lam lũ ruộng đồng như Văn, đang trong vòng tay cha mẹ, chưa biết yêu đương, chưa nhiều bạn bè, chưa biết ác liệt là gì. Thế mà những ngày đầu tiên mặc bộ áo màu xanh thanh niên xung phong họ đã đối mặt với những đoạn đường bom cày nát, những hố bom sâu hun hút và bên dưới những ụ đất đen màu khói bom và khét lẹt thuốc súng đang còn những quả bom nổ chậm hay chưa nổ.

Đơn vị của Nguyễn Thị Văn hành quân cấp tốc về phà Gang, thuộc xã Thanh Khai, huyện Thanh Chương. Con sông Gang nhỏ, hiền hòa vắt qua Thanh Chương, dân ở đây gọi là rào Gang. Cầu Gang bắc qua sông Gang đã bị máy bay Mỹ đánh sập từ năm ngoái, khi chúng đã đánh tan nát hết Quốc lộ I, tất cả xe vận tải của ta đi vào chiến trường B đều phải chạy đường 15. Văn được bổ sung vào đại đội 317, đây là một đại đội phần lớn là nữ của huyện đoàn Yên Thành. Các chị ở đây đều đi đợt đầu, năm 1965, đã làm đường, phá bom, san lấp hố bom ở những nơi bom chồng lên bom như Cầu Cấm, cầu Phương Tích. Ban đêm đơn vị ra lắp phà, kéo phà chở xe qua sông cùng với bộ đội công binh. Có tiểu đội sửa đường, lấp hố bom. Cực nhất là khi trời mưa, đường trơn, phà nặng, lúc lúc máy bay lại rẹt qua. Có những loạt bom tưởng nguy, Văn đã suýt kêu mẹ ơi nhưng rồi nó lại chệch hết xuống sông. Phà xe không việc gì. Gần sáng lại tháo phà đi cất giấu chỗ an toàn. Chiều tối lại kéo phà ra lắp chở xe pháo qua sông. Cứ thế và khi nào cũng dưới làn bom của máy bay Mỹ.

Di tích lịch sử Truông Bồn

Những ngày đầu Văn cũng đã đôi lần khóc vì nhớ mẹ, nhớ em, nhưng rồi quen. Với lại, công việc cần kíp chạy đua với máy bay không kịp thở, không còn thời gian để nhớ nhà, ban ngày thì ngủ bù mê mệt, trưa học văn hóa, hoặc sửa sang dụng cụ.

Cuối năm đó đơn vị lại về Rú Đụn, Nam Thanh, Nam Đàn, làm đường xế. Được vài tháng tình hình căng thẳng, trên lại điều đại đội về Truông Bồn. Gần hai năm vá đường, san lấp hố bom cho xe qua. Truông Bồn trở thành quyết chiến điểm mà Mỹ nhằm vào để cắt đứt nạch máu giao thông của miền Bắc chi viện cho miền Nam. Có những đêm đường tắc, đại đội của Văn phải giải phóng hàng dăm chục xe hàng. Dỡ hàng xuống, mang vác đi cất giấu, khi phá bom xong, lại mang hàng ra chất lên xe, để những chuyến xe vì miền Nam kịp ra tiền tuyến. Mà không phải làm trong trạng huống bình thường, đây là lúc nước sôi lửa bỏng, chậm một phút, máy bay giặc đến, cả đoàn xe có thể thành tro bui. Lúc ấy sức vóc nhỏ bé cũng thành bão liệt, hùng hục vác, hùng hục chạy, thở bằng tai, thở bằng mồm, những đêm những ngày lao động quên mình mà lúc ấy không một ai kêu mệt, kêu khó khăn. Có những tuần bom nổ tối trời. Lại nhiều đêm tiểu đội của Văn, cùng các chị như chị Doãn, chị Đang, chị Dung, nhiều chị nữa, phải mặc áo trắng đứng bên đường làm cọc tiêu sống cho lái xe căn đường mà chạy, mặc cho bom vẫn nổ phía trên, máy bay Mỹ vẫn rẹt trên đầu.

Kể từ tháng 6 đến giờ, Truông Bồn không lúc nào ngớt tiếng bom, bầu trời Truông Bồn không lúc nào không có khói bom bốc lên cao. Sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, Nguyễn Thị Văn đã hi sinh khi đang san lấp hố bom tại Truông Bồn, cùng với 12 chiến sỹ khác của đại đội thanh niên xung phong 317 Nghệ An. Bởi một loạt bom tọa độ. Lúc ấy là 6 giờ 10 phút sáng. Lúc ấy Nguyễn Thị Văn vừa tròn mười tám tuổi, người trẻ thứ hai trong đại đội, sau Hoài, Hoài mười bảy tuổi. Cũng vừa tròn hai năm mặc áo xanh thanh niên xung phong ra trận. Và lúc ấy cũng chỉ còn 18 giờ nữa là ngừng bắn tạm thời trên miền Bắc.

Bia tưởng niệm các nữ chiến sĩ

Ngày hôm sau, đơn vị và nhân dân Mỹ Sơn dùng đến xe máy gạt vẫn không tìm thấy thi thể Nguyễn Thị Văn. Thi thể cô đã tan hòa vào non sông đất nước này.

Thế là cô gái Đô Lương đã hi sinh cho đến tận cùng cuộc sống, không giữ lại một chút gì, kể như tuổi trẻ, kể như thịt da, cả đến một tấm hình nhỏ nhoi cũng không.

Bà Võ Thị Thế, mẹ Văn nghe tin con gái chết âm thầm khóc gần cả tháng trời. Bà mất năm 1979. Khi Văn hi sinh, Văn còn có 2 em trai, một em gái còn nhỏ. Bây giờ Võ em trai kề Văn, sau bao năm bộ đội, phục viên, đang thờ chị. Khi Văn hi sinh ở Truông Bồn các em còn nhỏ dại, không biết gì. Bây giờ có ai hỏi chị Văn thế nào, không có ai biết chị Văn thế nào. Lâu quá, 40 năm, gần nửa thế kỷ và cũng gần hai thế hệ, trời đất vốn vô tình, lịch sử có những điều quên thật dài.

Di ảnh 7 liệt sỹ trên nấm mồ chung

Ngày ấy tin Truông Bồn bị máy bay ném bom chết cả tiểu đội con gái loang ra cả tỉnh. Bố Văn cùng cậu Võ đi Truông Bồn hai ngày về nằm thở dài, lắc đầu. Mẹ Văn càng đau đớn, nằm lịm. Mấy hôm sau, chủ tịch xã xuống nhà tuyên bố o Văn thanh niên xung phong bị bom ở Truông Bồn, chết cả tiểu đội. Chỉ thế thôi. Xã thôn cũng không làm lễ truy điệu.

Nhiều năm sau, Võ lớn lên rồi đi bộ đội về, tìm đến Truông Bồn để thắp cho chị Văn nén hương, nghe nói bảy người chỉ tìm thấy được một ít da thịt, không biết của ai, đành chôn chung một mộ. Thời đó Truông Bồn đang chìm trong quên lãng, Võ đang ngơ ngác chưa biết mộ chị ở chỗ nào thì thấy trước mặt chập chờn một con bướm đen. Cứ chập chờn chập chờn mà không bay đi xa. Võ bảo, chị Văn ơi, chị thiêng thì hóa thành bướm chỉ mộ cho em. Không ngờ con bướm bay một đoạn nữa rồi đậu xuống mô đất trước mặt Võ. Nhìn vào bia thấy đúng là phần mộ của bảy người. Gió hiu hiu, vài ngọn cỏ lơ thơ, vài chân hương cũ xiêu vẹo, Võ đốt cả mấy thẻ hương cắm lên mộ chung rồi đứng khóc chị.

TRẦN HUY QUANG

Đang được quan tâm

Gửi bình luận